Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Bài học đau đớn từ 'đội quân thứ 5' của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh 1979

Bài học đau đớn từ 'đội quân thứ 5' của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh 1979

Trong số thám báo, chỉ điểm có những người là hàng xóm, thậm chí là anh em họ hàng vừa hôm trước còn tay bắt mặt mừng, còn ngồi ăn chung một mâm cỗ thì hôm sau đã là những kẻ đối địch. 
Đến hẹn lại lên, mỗi năm cứ đến tháng 2 tây lịch, đất và người vùng biên giới phía Bắc lại dâng lên nhiều cảm xúc đan xen khó tả khi nhớ lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của tổ quốc nổ ra vào rạng sáng ngày 17/2/1979.
Phóng viên báo Lao Động đã có mặt ở những vùng đất nóng bỏng, trực tiếp gặp gỡ những nhân chứng sống trong những thời khắc ác liệt nhất của cuộc chiến năm nào. Đau thương, uất nghẹn, pha lẫn tự hào, tự tin trước những biến cố của chiến tranh, của thời cuộc. Nhưng dù là đau thương đến mấy, 36 năm đã qua đi, vết thương theo năm tháng cũng dần lành lặn và hồi sinh hướng về một tương lai mới. Chỉ còn duy nhất những bài học, bài học phải trả bằng xương máu là vẫn còn nguyên giá trị.
*     *
*
Khi Nông Văn Ngàn trở lại Cao Bằng, hai cây cầu vào thị xã bị đánh sập. Phố xá bị san bằng hết. Cột điện, gốc cây bị đứt ngang vì mìn. Kể cả ghế đá vườn hoa. Nà Rụa là nơi dân ở Hà Quảng, Trà Lĩnh chạy ra và bị chết nhiều nhất. Cả tháng sau khi lính Trung Quốc rút, những đau thương tang tóc vấn còn đó.
Ký ức về Dương Lệ Mẫn
36 năm rồi mà ông Ngàn vẫn không quên năm ấy. Năm 1979, ông còn là một cậu học trò trường cấp 3 thị xã. Quá nhỏ để hiểu thế sự, nhưng đủ lớn để không thể quên những trái ngang thế thái nhân tình. Lớp khi đó có 3 bạn người Hoa là Hoàng Cắm Choóng, Vương Kinh và Dương Lệ Mẫn. Ông thân với Mẫn, một cô gái đặc biệt xinh đẹp như bất cứ cô gái gốc Hoa nào khác. Mẫn thuộc nhóm “cháu ngoan bác Hồ”. Có lần, trước chiến tranh, hai người còn ăn chung một nắm cơm khi đi thăm hang Pắc Bó.
Suốt cả kỳ 1 năm học, cả ba bỗng dưng ít nói. Còn Mẫn, mỗi lần ra chơi cô chỉ ở lại trong lớp và khóc một mình. “Chuẩn bị kỳ nghỉ tết năm ấy, vào buổi học cuối, Mẫn gặp tôi, vừa nói vừa khóc: “Ngày mai tôi nghỉ học. Tôi với bạn chia tay. Biết đâu trong những ngày tới tôi và bạn ở hai chiến tuyến…”. "Cô ấy nghẹn lời gạt nước mắt chạy đi. Tôi thương, lặng đứng nhìn theo” - lời ông Ngàn.
Sau tết, ngoài giờ học chính khóa buổi sáng, học sinh Cao Bằng khi ấy đào giao thông hào quanh trường. “Tình hình lúc đó rất khẩn trương”- ông Ngàn nhớ lại, đâu đâu người lớn cũng thầm thì về một cuộc chiến tranh sẽ xẩy ra nay mai. Có rất nhiều chuyện, nhiều đồn thổi. Chỉ huy trưởng Thị đội, trung tá Loòng tuyên bố nếu Trung quốc thò tay sang đánh ta thì ta sẽ chủ động và kiên quyết chống trả … Nhưng hồi ấy, không chỉ trẻ con mà ngay cả người lớn đều không tin là Trung quốc sẽ đánh mà nghĩ chắc lại gây hấn ném đá, gậy gộc rồi thôi. Đêm trước chiến tranh, 16/2/1979, rạp ngoài trời chiếu bộ phim "Giải Phóng". Vì là phim chiến đấu của Liên Xô, lại chiếu liền 3 tập nên dân thị xã đi xem rất đông. 11h khuya phim mới chiếu xong, khi mọi người tản mạn ra về thì phía biên giới hướng Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Đông Khê có rất nhiều ánh chớp lóe lên xen lẫn những tiếng ì ầm. Mọi người chỉ thấy lạ là không có mưa mà mùa mưa chưa đến sao lại có sấm chớp làm vậy. Không ai biết được điều tệ hại nhất đã xảy ra.
Chiến tranh đến ngay ngày hôm sau, ngay sau một thông báo sơ tán, cả Cao Bằng chạy giặc. Đúng là không có gì khốn khổ, nháo nhác và sợ hãi hơn là chạy giặc. Ông Ngàn theo gia đình, theo đoàn người chạy vào Mỏ Muối. Từ Mỏ Muối tới Khuổi Diên. Từ Khuổi Diên tới Pác Sóa. Chạy trong sự hỗn loạn bố mẹ tìm con cái, chồng tìm vợ, con cháu chạy tìm ông bà... nháo nhác, rùng rùng hỗn loạn chạy tứ tán. “ Nhà thằng Sơn bạn tôi chạy mỗi người một ngả, đến khi tụ tập lại được thì không thấy bà cụ già đâu cả mãi về sau mới tìm thấy, bà bị dòng người chen lấn xô đẩy ngã xuống một cái hố sâu ở bờ sông. Không lên được. Không kêu cứu được. Bà cụ mất ngay tối hôm đó.

Xem thêm:













>> Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Ai nợ ai?

“Cứ đi vậy thôi” - ông Ngàn nói: “Tất cả đều không biết sẽ đi đâu, chỉ là ngược với hướng pháo”. Khuya ngày 18/2, khi cả đoàn đang ở bản Pác Sóa, cách Cao Bằng khoảng 6km thì tất cả bị dựng dậy khi có tin báo một toán thám báo được bọn chỉ điểm dẫn đường đang tới. Thời gian cứ chậm chạp trôi đi, mọi người không ai dám ngủ để chờ tiếng súng nổ ra, và rồi cái gì đến sẽ phải đến, lúc đó ước khoảng hơn 1h sáng, bắt đầu chỉ là một loạt AK vang lên, sau đó là hỗn loạn đủ các loại tiếng nổ của các loại súng, giao tranh chỉ diễn ra chừng 10 phút, sau đó im bặt. Căng thẳng. Đa số lần đầu tiên nghe tiếng súng nổ gần đến như vậy. Sau đó sự căng thẳng vỡ òa bằng một tiếng trẻ khóc thét mặc dù bị bố mẹ chúng bịt chặt mồm, các cụ già thì run lẩy bẩy, miệng cầu phật khấn trời không ra hơi.
Toán biệt kích đêm đó đã bị bộ đội tiêu diệt toàn bộ, chỉ riêng tên chỉ điểm suýt trốn thoát. “Tôi còn nhớ như in sự kinh ngạc của mình khi ấy”- lời ông Ngàn - “kinh ngạc đến há hốc mồm. Sững sờ đến mức suýt thì “Cháu chào bác ạ” khi tên chỉ điểm bị dẫn giải qua ngay trước mặt tôi chính là Voàng Cắm Hoáng - bố đẻ của thằng Voàng Cắm Choóng, bạn học của tôi”. Nhưng sự đau đớn và cảm giác bị phản bội chỉ đến ít ngày sau đó khi ông được nghe lại rằng tổ thám báo đã dẫn chiếc xe tăng của địch từ Đông Khê về đến tận dốc Nà Toòng chính là ông Dương Maishen - chủ hiệu trồng răng khu phố Vườn Cam và là bố của Dương Lệ Mẫn.
Câu chuyện nằm lòng của người Việt
Trong chiến tranh biên giới 1979, ngoài các quân đoàn chính quy, Trung Quốc còn sử dụng “lực lượng thứ năm” cắm chốt sẵn trong lãnh thổ Việt Nam. Từ đêm 16/2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Ông Mùa A Sấu - nguyên Chủ tịch MTTQ tỉnh Lai Châu - nhớ lại, “lực lượng thứ năm” khi ấy có cả cốt cán, thậm chí cả trưởng công an xã. “Nó trực chiến, địch đến làm tay sai. Một báo cáo chiến công của Lai Châu thời điểm đó ghi nhận chỉ riêng Đại đội l (Tiểu đoàn cảnh sát cơ động của Ty Công an) trong ít ngày của cuộc chiến đã truy bắt 40 đối tượng chính trị nguy hiểm.
36 năm sau cuộc chiến, ông Điêu Chính Tuệ - thời điểm 1979 là Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu - vẫn chưa hề quên rằng trong số thám báo, chỉ điểm có những người là hàng xóm, thậm chí là anh em họ hàng vừa hôm trước còn tay bắt mặt mừng, còn ngồi ăn chung một mâm cỗ thì hôm sau đã là những kẻ đối địch. Rất, rất nhiều câu chuyện đau lòng về tình huynh đệ sau chiến tranh vẫn được nhắc tới. “Đối với những người Trung Quốc lúc đó, khi gặp nhau tay bắt mặt mừng, họ nói như cho mình uống nước đường, nhưng có gì là trở mặt ngay. Cái trở mặt có lúc thì tàn ác, có khi khiến khó khăn kéo dài”- ông Tuệ nói.
Trở lại với câu chuyện của ông Ngàn, sau chiến tranh biên giới, ông phục vụ trong quân đội, trở thành một cán bộ nghiên cứu khoa học, và giờ là một doanh nhân tứ hải giang hồ, nhưng tuyệt nhiên chưa hề gặp hay nghe tin tức gì về Hoàng Cắm Choóng hay Dương Lệ Mẫn. Nhân chứng về sự bội bạc 36 năm trước nay vẫn còn băn khoăn tại sao những người hôm trước còn là hàng xóm láng giềng, anh em bè bạn cùng nhau ăn nắm cơm thơm dẻo, sống đùm bọc yêu thương trong sự hòa hiếu của người Cao Bằng, thì chỉ hôm sau đã trở tay để thành thù địch. “Có lẽ Vương, hay Dương cũng chỉ là nạn nhân mà thôi!”.
Nếu có gặp lại họ thì có lẽ ông cũng không thể nói điều gì. Chả lẽ nhắc lại câu chuyện lông ngỗng mà hễ là người Việt Nam tưởng đã thuộc nằm lòng?.
Theo LAO ĐỘNG ONLINE
nguồn:http://www.reds.vn/index.php/chính-trị/chủ-quyền/8570-đội-quân-thứ-5-của-trung-quốc-trong-cuộc-chiến-tranh-1979-2

Thủ tướng đi Mỹ.

Thủ tướng đi Mỹ.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt chân đến Hoa Kỳ để dự hội nghị cấp cao đặc biệt giữa Asean và Hoa Kỳ được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2016.
Trước chuyến đi này của ông Dũng, nhiều nguồn tin đã loan báo ông Dũng sẽ không đi, thay thế vào đó là ông Phạm Bình Minh bộ trưởng ngoại giao.
Hãng thông tấn BBC loan một bản tin tương như vậy, vài giờ sau trang tin này đưa một bản tin tiêu đề khá ngộ nghĩnh.
Thủ tướng Dũng đổi ý giờ chót gặp Obama.
Mọi lý giải đều cho rằng ĐCSVN không muốn ông Dũng đi, nhưng vì đòi hỏi của Hoa Kỳ nên bắt buộc phải để ông Dũng đi trên tư cách đứng đầu phái đoàn Việt Nam.
Với chế độ như cộng sản Việt Nam, việc ông Dũng đi hay không đi đều có thể xảy ra. Dự một hội nghị quan trọng như vậy tại Hoa Kỳ, các uỷ viên BCT nào của Việt Nam cũng thèm muốn được ra mắt trong vai trò đứng đầu. Trong khi ông Dũng đã không còn giữ chức gì trong đảng CS sau đại hội 12 vừa qua. Nhưng thông lệ của hội nghị, các phái đoàn đến phải là nguyên thủ quốc gia như tổng thống, thủ tướng mới tương xứng với tầm quan trọng của hội nghị. Thế nên việc ông Dũng đi sang Mỹ dự hội nghị này là phù hợp với thông lệ.
Nhân dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, các bộ phận ngoại giao Việt Nam tại Hoa Kỳ đi chúc Tết một số kiều bào, các cán bộ ngoại giao ở đây đã nhắc nhở một số kiều bào không nên tiếp xúc với thủ tướng khi ông Dũng đến Hoa Kỳ dự hội nghị này.
Như vậy, việc ông Dũng đi đến Hoa Kỳ lần này đã có trong một kế hoạch dự phòng định trước. Việc không công bố và tung những tin hoả mù của chế độ để nhằm mục đích là, nếu buộc phải để Dũng đi, thì tin như vậy sẽ ngăn cản những kiều bào vốn thường xuyên có quan hệ tốt với chế độ CS không tiếp xúc với thủ tướng, qua đó khiến cho uy tín của thủ tướng giảm đi trong mắt dư luận. Việc này càng rõ hơn khi đến chiều ngày 15 tháng 2 khi mà Nguyễn Tấn Dũng đã đến Hoa Kỳ một ngày. Nhiều tờ báo lớn trong nước không đưa tin hoặc đưa tin rất sơ sài ở mục nhỏ. Duy nhất có tờ Dân Trí đưa tin lấy lại từ Thông Tấn Xã Việt Nam, những tấm hình cho thấy chỉ hai người Việt ra đón thủ tướng trong đó một người là phiên dịch và một phụ nữ ôm bó hoa như đi chợ. Một cảnh đón tiếp nhạt nhẽo nhất từ trước đến nay của của kiều bào Hoa Kỳ với thủ tướng Dũng.



Điều khác lạ hơn là những người an ninh bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến đi này đều từ Việt Nam sang cùng. Thông thường khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ sẽ có đội an ninh lấy từ đại sứ quán, lãnh sự quán đến phối hợp để bảo vệ an ninh. Bởi mỗi khi ông Dũng đến Hoa Kỳ làm việc với chính phủ sở tại hay các tổ chức thương mại, quốc tế đóng tại đây, ông đều có những cuộc gặp gỡ bên ngoài với các cộng đồng người Việt. Việc tham gia của đội ngũ an ninh Việt Nam ở Hoà Kỳ sẽ giúp thủ tướng lựa chọn được những địa điểm, những con người người phù hợp để ông tiếp xúc, nói chuyện. Nhưng có thể lần này không cần thiết đến các an ninh Việt Nam tại Hoà Kỳ, bởi ông Dũng không được phép tiếp xúc tự do bên ngoài hội nghị như mọi lần trước nữa.
Ở hội nghị cấp cao này, Hoa Kỳ muốn tác động thắt chặt quan hệ với các nước Asean để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc. Bởi vậy trước hội nghị này, ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã phải trực tiếp vận động những nước trong khối Asean có lập trường nghiêng về phía Trung Quốc như Lào, Cam Pố thay đổi thái độ bấy lâu. Qua những động thái như vậy của Hoa Kỳ , dễ nhận thấy Hoa Kỳ rất coi trọng tầm vóc của hội nghị này và sốt sắng muốn nhanh chóng đạt được những thoả thuận đồng nhất giữa các nước Asean với Hoa Kỳ về kinh tế và an ninh hàng hải, an ninh khu vực.
Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm tiếng nói ủng hộ mình trong vấn đề biển Đông cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ phát triển kinh tế. Lẽ ra với những mục tiêu hứa hẹn tốt đẹp như vậy, báo chí Việt Nam phải hăng hái đưa tin cổ vũ, ca ngợi.
Thế nhưng sự lạnh nhạt của truyền thông Việt Nam cho thấy, phải chăng chế độ Việt Nam không mặn mà gì với hội nghị này. Nguyên nhân đó chỉ là muốn giảm uy tín của cá nhân Nguyễn Tấn Dũng.? Nếu thế thật tai hại, không thể vì muốn giảm uy tín một cá nhân mà không thông tin cung cấp cho người dân biết về những cơ hội phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Hay còn có nguyên nhân khác, là Việt Nam e ngại Trung Quốc nên không muốn nhắc nhở nhiều đến chuyến đi này. Nếu thế là quá nguy hại, chứng tỏ Việt Nam chưa thể thoát được sự điều khiển của Trung Quốc. Như vậy thì kết quả mà đoàn Việt Nam đến Hoa Kỳ lần này sẽ chẳng có tiến triển gì trong cái gọi là tăng cường đấu tranh ngoại giao để bảo vệ chủ quyền như họ vẫn nói.
Dù ông Dũng không còn là gì đi nữa trong Đảng CSVN. Nhưng hôm nay ông đến Hoa Kỳ trong vai trò là một nguyên thủ Việt Nam, để làm về những việc quan trong gắn với sự phát triển và bảo vệ tổ quốc. Hình ảnh, thông tin mà Thông Tấn Xã Việt Nam cung cấp cho bạn đọc về cuộc đón tiếp ông Dũng tại Hoa Kỳ thật sơ sài, thiếu lửa nếu như không nói là tệ hại. Đến lúc này thì hình ảnh của ông Dũng có mặt tại hội nghị cấp cao Asean - Hoa Kỳ là hình ảnh đất nước. Không nên vì những hẹp hòi cá nhân mà chỉ đạo báo chí đưa tin, ảnh thiếu sinh khí như vậy về chuyến đi của ông Dũng.
Còn nếu như vì sợ Trung Quốc mà đưa tin như vậy, thật chẳng còn gì để nói về cái đảng cộng sản Việt Nam.
THANH HIEU BUI

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ ASEAN TẠI SUNNYLANDS

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ ASEAN TẠI SUNNYLANDS


Sunnylands, California
ngày 15-16 tháng 2 năm 2016


Sau đây là toàn văn của Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ với Cộng đồng Đông Nam Á đã được ký kết trong tối hôm qua giờ Việt Nam. Tôi xin lược dịch để người dân Việt Nam nắm và tìm hiểu.

Sunnylands, California

Ngày 15-16 tháng 2 năm 2016

Chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hoa Kỳ tập trung tại Sunnylands, California, vào 2 ngày 15-16, tháng Hai, năm 2016, cho một Hội nghị đặc biệt của của những nhà lãnh đạo. Đây là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt giữa Hoa Kỳ-ASEAN đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ và cũng là Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau khi thành lập Khối Cộng đồng chung ASEAN.

Hội nghị đã đánh dấu một năm bước ngoặt cho cả hai bên ASEAN và cho một sự xích lại ngày càng gần nhau của Hoa Kỳ-ASEAN trong quan hệ đối tác chiến lược. Trong năm 2015, các nước thành viên ASEAN đã tổ chức lễ thành lập Cộng đồng ASEAN, làm việc cùng nhau hướng tới một ASEAN tốt hơn nhằm phục vụ người dân của khu vực Đông Nam Á.

Tại Hội nghị thượng đỉnh của chúng tôi ở Kuala Lumpur vào tháng 11 năm 2015, chúng tôi nâng mối quan hệ Hoa Kỳ-ASEAN lên tầm đối tác chiến lược, công nhận việc chuyển đổi mối quan hệ của chúng tôi trong nhiều năm qua. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này, chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của ASEAN và Hoa Kỳ có cơ hội này, để tái khẳng định những nguyên tắc quan trọng mà sẽ hướng tới hợp tác của chúng tôi đi về phía trước:

1. Chúng tôi cùng nhau trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia bằng sự duy trì vững chắc các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;

2. Vì tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế toàn diện bền vững và phát triển, và ươm mầm cho những thế hệ trẻ của chúng tôi để duy trì liên tục hòa bình, phát triển và ổn định vì lợi ích chung;

3. Công nhận lẫn nhau về tầm quan trọng của việc theo đuổi các chính sách dẫn đến nền kinh tế năng động, cởi mở và cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, đổi mới, tinh thần kinh doanh và kết nối, và hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ(SEMs: Small and medium-sized enterprises) và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia;

4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả các dân tộc của chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, tăng cường quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự khoan dung và sự điều tiết, và bảo vệ môi trường;

5. Tôn trọng và hỗ trợ cho các trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN lãnh đạo trong cấu trúc khu vực phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương;

6. Cam kết cho một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ nhằm duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước;

7. Cam kết chung về việc giải quyết các tranh chấp theo phương pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS);

8. Cam kết chung về việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải, bao gồm cả quyền tự do hàng hải và quyền sử dụng hợp pháp khác của các vùng biển, và không bị cản trở thương mại hàng hải hợp pháp như được mô tả trong Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;

9. Cam kết chung tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;

10 Quyết tâm mạnh mẽ về các vấn đề toàn cầu như khủng bố và chủ nghĩa bạo lực cực đoan, buôn bán người, buôn bán ma túy, và đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, cũng như buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã và gỗ;

11. Cam kết chung để giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển bền vững về môi trường ASEAN với thời tiết, cũng như để các quốc gia thành viên thực hiện sự quyết tâm đóng góp theo Hiệp định về khí hậu của Paris 2015;

12. Cam kết chung thúc đẩy an ninh và ổn định đối với không gian mạng phù hợp với các chuẩn mực về hành vi do nhà nước chịu trách nhiệm;

13. Hỗ trợ cho sự tiến bộ một cách mạnh mẽ, ổn định, gắn kết với chính trị, hoàn thiện kinh tế thị trường, có trách nhiệm xã hội, cộng đồng thân thiện, con người là trung tâm và dựa trên luật Cộng đồng ASEAN;

14. Cam kết chung tăng cường kết nối giữa người với người thông qua các chương trình có sự tham gia của cộng đồng ASEAN và công dân Mỹ, đặc biệt là giới trẻ, và thúc đẩy những cơ hội đến với tất cả các dân tộc của chúng ta, đặc biệt những vấn đề dễ bị tổn thương nhất, nhằm thực hiện tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN;

15. Cam kết chung thúc đẩy mối quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển bền vững thông qua việc thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững và Chương trình hành động Addis Ababa đến năm 2030, nhằm đảm bảo một xã hội bền vững, công bằng và toàn diện mà không có bất kỳ quốc gia nào tụt hậu phía sau;

16. Cam kết chung tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt là các cơ chế do ASEAN lãnh đạo hiện có; và cuối cùng là

17. Cam kết chung tiếp tục đối thoại chính trị giữa những người đứng đầu ở cấp Chính phủ / Nhà nước thông qua các cuộc tham dự lãnh đạo của chúng ta tại các Hội nghị Thượng đỉnh các lãnh đạo của Hoa Kỳ-ASEAN hàng năm và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN Leaders đặc biệt ': Tuyên bố Sunnylands


Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN Leaders đặc biệt ': Tuyên bố Sunnylands

Sunnylands, California
15-ngày 16 tháng 2 năm 2016
Chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hoa Kỳ tập trung tại Sunnylands, California, vào ngày 15-16, năm 2016, một nhà lãnh đạo đặc biệt Summit. Chức Năng Đặc Biệt Hoa Kỳ-ASEAN Hội nghị lần này là lần đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ và Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau khi thành lập Cộng đồng ASEAN.
Hội nghị đã đánh dấu một năm bước ngoặt cho cả ASEAN và cho ngày càng chặt chẽ Mỹ-ASEAN. quan hệ đối tác chiến lược. Trong năm 2015, các nước thành viên ASEAN đã tổ chức lễ thành lập Cộng đồng ASEAN, làm việc cùng nhau hướng tới một ASEAN mà tốt hơn phục vụ người dân của khu vực Đông Nam Á.
Tại Hội nghị thượng đỉnh của chúng tôi ở Kuala Lumpur vào tháng 11 năm 2015, chúng tôi nâng mối quan hệ Mỹ-ASEAN lên tầm đối tác chiến lược, công nhận việc chuyển đổi mối quan hệ của chúng tôi trong nhiều năm qua. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này, chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của ASEAN và Hoa Kỳ có cơ hội này để tái khẳng định những nguyên tắc quan trọng mà sẽ hướng dẫn hợp tác của chúng tôi đi về phía trước:
1. Đối Mutual cho chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia bằng cách vững chắc duy trì các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;
2. Tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế toàn diện bền vững và phát triển, và sự nuôi dưỡng của những người trẻ tuổi của chúng tôi để duy trì liên tục hòa bình, phát triển và ổn định vì lợi ích chung;
3. Công nhận lẫn nhau về tầm quan trọng của việc theo đuổi các chính sách dẫn đến nền kinh tế năng động, cởi mở và cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đổi mới, tinh thần kinh doanh và kết nối, và các DNVVN hỗ trợ và thu hẹp khoảng cách phát triển;
4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả các dân tộc chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, tăng cường quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự khoan dung và điều độ, và bảo vệ môi trường;
5. Tôn trọng và hỗ trợ cho các trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN lãnh đạo trong cấu trúc khu vực phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương;
6. tuân thủ Công ty để một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ đó duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước;
7. cam kết chung để giải quyết hòa bình các tranh chấp, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS);
8. chung cam kết duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh hàng hải và an toàn, bao gồm cả quyền tự do hàng hải và hàng và sử dụng hợp pháp khác của các vùng biển, và không bị cản trở thương mại hàng hải hợp pháp như được mô tả trong Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự và tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;
9. chung cam kết tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;
10 quyết tâm mạnh mẽ để dẫn về các vấn đề toàn cầu như khủng bố và chủ nghĩa cực đoan bạo lực, buôn bán người, buôn bán ma túy, và bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đánh bắt cá, cũng như buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã và gỗ;
11. chung cam kết để giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển bền vững về môi trường ASEAN với khí hậu, cũng như để thực hiện cá nhân đóng góp quyết tâm quốc gia nước được thực hiện theo Hiệp định Paris khí hậu;
12. chung cam kết thúc đẩy an ninh và ổn định trong không gian mạng phù hợp với các chuẩn mực về hành vi của nhà nước chịu trách nhiệm;
13. Hỗ trợ cho sự tiến bộ của một mạnh mẽ, ổn định, gắn kết về chính trị, kinh tế tổng hợp, trách nhiệm xã hội, người định hướng, người làm trung tâm và dựa trên luật Cộng đồng ASEAN;
14. chung cam kết tăng cường kết nối người với người thông qua các chương trình tham gia ASEAN và công dân Mỹ, những người đặc biệt là giới trẻ, và quảng bá cơ hội cho tất cả dân tộc chúng ta, đặc biệt dễ bị tổn thương nhất, để thực hiện tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN;
15. chung cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển bền vững thông qua việc thực hiện của năm 2030 Chương trình nghị sự phát triển bền vững và Chương trình hành động Addis Ababa, để đảm bảo một xã hội bền vững, công bằng và toàn diện mà không có ai để lại đằng sau;
16. chung cam kết tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt là tại các cơ chế do ASEAN lãnh đạo hiện có; và
17. chung cam kết tiếp tục đối thoại chính trị tại Trụ cấp Chính phủ / Nhà nước thông qua tham dự lãnh đạo của chúng tôi 'tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN hàng năm và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách

Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách

TT - GS Vũ Dương Ninh, ủy viên đoàn chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, đã cho biết như vậy. Và điều này cũng là mong muốn của rất nhiều bạn đọc khi phản hồi các bài viết về cuộc chiến vệ quốc này trên Tuổi Trẻ những ngày vừa qua.
Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách Phóng to
Ông Trương Tấn Sang - khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư - đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 - Ảnh tư liệu
* Thưa giáo sư, là một trong những người biên soạn bộ sách giáo khoa (SGK) lịch sử hiện hành, xin giáo sư cho biết ý kiến về việc rất nhiều công dân là phụ huynh và học sinh đề nghị nên có sự chỉnh sửa, đổi mới SGK lịch sử, nhất là bổ sung và làm rõ những tư liệu lịch sử về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979?
- GS Vũ Dương Ninh: Không chỉ SGK nói riêng mà nhận thức chung của mọi người dân VN cần phải biết về sự thật lịch sử. Cuộc chiến tranh biên giới diễn ra đã khá lâu, đủ độ lùi lịch sử để đưa vào SGK phổ thông cho thế hệ con cháu của chúng ta hiểu được đã xảy ra một sự việc: người Trung Quốc đã tấn công người VN, xâm lược lãnh thổ VN và chúng ta đã phải tiến hành một cuộc kháng chiến để bảo vệ lãnh thổ. Tôi cho rằng đây là thời điểm thích hợp để bổ sung bài học về sự kiện này vào SGK.
UxAgltP6.jpg
GS Vũ Dương Ninh - Ảnh: Ngô Vương Anh
* Thưa giáo sư, việc đưa sử liệu vào SGK có những đặc thù riêng, không như công trình nghiên cứu hay bài báo, theo giáo sư, cuộc chiến tranh biên giới cần được đưa vào SGK như thế nào?
- Để đưa vào SGK, phải bảo đảm tính chân thực lịch sử, tính chân thực thể hiện ở cách tường thuật lại sự kiện, ở những phân tích thấu đáo về nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh, tại sao đối phương lại xâm lược và tại sao chúng ta chống lại.
Bài học trong SGK cũng phải đưa ra được những tấm gương cụ thể, những chiến công cụ thể trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những tấm gương và những chiến công ấy phải được vinh danh như những anh hùng trong suốt chiều dài lịch sử như các anh hùng chống Nguyên Mông, Minh, Thanh, Pháp, Mỹ... Điều quan trọng nhất của bài học lịch sử trong SGK là phải làm rõ được lòng yêu nước và tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó
* Nhưng cũng có không ít ý kiến e ngại rằng đưa cuộc chiến tranh biên giới vào SGK sẽ dạy cho trẻ em sự thù hận và làm ảnh hưởng đến quan hệ hữu hảo với láng giềng mà chúng ta đang muốn gìn giữ, giáo sư nghĩ sao về điều này?
- Tôi không nghĩ như vậy. Chúng ta vừa kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, 45 năm sự kiện Mậu Thân, và như thế hoàn toàn không có nghĩa là khơi dậy hận thù với Mỹ. Ngược lại, nhìn lại và phân tích những bài học từ cuộc chiến, hai bên hiểu nhau hơn và cùng khép lại quá khứ để hướng tới một tương lai hợp tác tin cậy hơn.
Cuộc chiến tranh biên giới không nên bị né tránh như vậy, chúng ta phải cho con em chúng ta biết là lịch sử đã xảy ra như thế. Vấn đề là cách chúng ta viết sao cho học sinh nhận biết được đúng sự thật lịch sử một cách khách quan. Quan trọng hơn các em sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng quan hệ bang giao với các nước để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.
* SGK lịch sử hiện tại chỉ có không đến 10 dòng về cuộc chiến biên giới, theo giáo sư thì sự thay đổi nên có liều lượng như thế nào và bắt đầu từ bao giờ?
- Đúng là hiện tại SGK nhắc đến chiến tranh biên giới quá ít. Thật ra vào thời điểm viết sách cách đây 7-8 năm thì đưa được chừng ấy dòng vào SGK cũng là một sự quyết tâm của các tác giả. SGK lịch sử phổ thông phần hiện đại có hai vòng: vòng lớp 9 và vòng lớp 12. Vòng nào chúng ta cũng phải đưa sự kiện chiến tranh biên giới vào, với những mức độ khác nhau, phụ thuộc trình độ nhận thức của học sinh.
Ở lớp 9 cần thông tin sự kiện với mức độ để các em biết được có một cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc đã diễn ra trong thời điểm như vậy, tổn thất và chiến thắng ra sao. Ở lớp 12 thì phân tích có ngọn ngành nguyên nhân, tính chất cuộc chiến, những bài học lịch sử như tôi đã nói ở trên.
Hiện tại tôi không còn ở trong hội đồng biên soạn SGK lịch sử, nhưng với tư cách một người nghiên cứu lịch sử, tôi đề nghị Bộ GD-ĐT nên tiến hành việc bổ sung SGK lịch sử càng sớm càng tốt. Cách viết thì tùy thuộc từng tác giả nhưng sự việc năm 1979 nhất thiết phải đưa vào SGK, làm cho học sinh hiểu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và phải vinh danh những chiến sĩ, đồng bào đã hi sinh trên trận tuyến này.
GS NGUYỄN MINH THUYẾT:
Có thể đưa sớm vào SGK tiếng Việt
Chiến tranh biên giới phía Bắc, sự kiện lịch sử ngày 17-2-1979 và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước giai đoạn đó chắc chắn là nội dung cần phải đưa vào sử nước nhà. Để thể hiện nội dung này ở SGK lịch sử dạy cho học sinh trong nhà trường phổ thông thì trước hết nó cần phải được thể hiện trong thông sử. Vì người viết SGK phải dựa vào thông sử để viết sách.
Tuy nhiên, là một người chủ biên SGK tiếng Việt, quan điểm của tôi là nếu có một cuộc biên soạn SGK phổ thông mới và được đảm nhận trách nhiệm chủ biên, tôi sẽ đưa vào SGK những bài liên quan đến sự kiện đấu tranh chống giặc ngoại xâm ở biên giới phía Bắc. Nếu như SGK lịch sử cần phải dựa vào thông sử, phải chính xác, cụ thể thì ở phân môn tiếng Việt nói riêng và môn ngữ văn nói chung, hoàn toàn có thể đưa vào những câu chuyện, bài thơ, bài viết ca ngợi cuộc đấu tranh của dân tộc, ca ngợi những người con đất Việt đã chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc ở giai đoạn lịch sử bi tráng này.
VĨNH HÀ ghi
20/02/2013 08:30 
Ông ĐỖ NGỌC THỐNG (phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học Bộ GD-ĐT, thường trực Ban biên soạn chương trình - SGK sau năm 2015)
Giáo dục lòng yêu nước là một định hướng xây dựng SGK
Là người bao quát chung việc biên soạn chương trình - SGK sau năm 2015, tôi cho rằng những vấn đề đang nóng, có tính thời sự, được đông đảo người dân quan tâm và đó lại là vấn đề có thể giáo dục ý thức tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước cho thế hệ trẻ thì hoàn toàn có thể tính đến việc đưa vào SGK. Nhưng đưa như thế nào, liều lượng ra sao thì cần phải nghiên cứu, cân nhắc thận trọng.
Cụ thể việc đưa hay không đưa nội dung về chiến tranh biên giới phía Bắc và sự kiện 17-2-1979 vào SGK lịch sử, ban soạn thảo cần phải tham khảo ý kiến của Hội Khoa học lịch sử, các chuyên gia về lịch sử. Hiện chúng tôi đang hoàn thiện bản định hướng chung để xây dựng chương trình - SGK áp dụng cho tất cả các môn học. Một trong những định hướng chúng tôi đặt ra là giáo dục tư tưởng, lòng yêu nước cho học sinh. Với định hướng này, không chỉ SGK lịch sử mà ở các môn học khác cũng có thể nghiên cứu đưa các nội dung mới phù hợp. Ví dụ như ở SGK địa lý hoàn toàn có thể đưa vào các nội dung mới hơn về biển đảo, giáo dục ý thức về bảo toàn lãnh thổ VN.
VĨNH HÀ ghi

TẠI SAO VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG BỊ BẮT VÀO TÙ KHÁM LỚN?

TẠI SAO VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG BỊ BẮT VÀO TÙ KHÁM LỚN?
Nguồn: Internet (tredeponline)
Jun 11, 2015
Chúng ta ai cũng đã từng nghe : 
"Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do".
Nhưng ít người biết tác giả 2 câu này chính là: nhà thơ Vũ Hoàng Chương. (HL)
 
Đã là cựu học sinh Chu-văn-An, ai không biết thi sĩ Vũ-hoàng-Chương là một vị giáo-sư Việt Văn rất đáng mến. Quả thật vậy, trong cuộc đời thi sĩ, Ông đã từng xuất bản cả chục tập thơ và kịch thơ , cũng như trong nghề dạy học, ai đã từng là học trò Ông  thảy đều thương kính, coi Ông như một vị giáo sư có đầy đủ tác phong về đạo đức và sư phạm. Hơn thế nữa, hãy xem nhà văn Song-Thao (cũng là một cựu học sinh Chu-văn-An) mô tả Ông trong tập truyện “Chốn cũ” vừa xuất bản:
"Thầy đi quanh lớp bằng những bước chân nhẹ nhàng, đầu nghểnh cao, mắt xa vắng, giảng bài bằng cái giọng nhừa nhựa thanh thanh. Có những lúc mắt thầy như nhắm hẳn lại, đầu lắc lắc từng chặp. Những lúc đó thầy như thoát hồn bay về một trời thơ nào đó. Thầy say thơ. Thầy ngâm thơ như một người đồng thiếp. Như không còn thầy. Như không có trò. Như không phải là một lớp học. Chỉ có một cõi thơ lồng lộng bát ngát. Chúng tôi cũng thấm thơ. Vô cùng nồng nàn là những dòng thơ đất Việt. Chỉ có tiếng chuông báo hết giờ học mới có thể kéo thầy trò ra khỏi cơn mê văn chương…”
Làm thơ đã hay, dạy học thì say mê như thế, Vũ-hoàng-Chương không hề làm chính trị. Hồi toàn quốc kháng chiến  năm 1946, Ông cũng chỉ  tản cư khỏi thành phố một thời gian rồi  lại hồi cư, chứ không ra bưng. Từ năm 1954 khi di cư vào Saigon, Ông cũng không tham gia một đảng phái nào. Thế nhưng cuộc đổi đời ” tháng tư đen” đã đưa Ông vào tù  và chỉ được tha về khi kiệt lực gần chết. Chúng ta thử tìm hiểu nguyên do nào đã đưa Ông vào vòng lao lý gần một năm trời. Với thân hình gầy còm và “ả phù dung” dằn vặt làm sao Ông sống nổi. Kể ra cũng có nhiều lý do xa gần.
 Bài thơ hoạt cảnh Tết Con Rồng.
 Miền nam ViệtNam bị mất về tay cộng sản tháng tư năm 75 thuộc năm Mão. Cuộc đổi đời đã gây ra nhiều cảnh éo le cả về hoàn cảnh xã hội lẫn nhân tình thế thái. Vũ-hoàng-Chương bị kẹt lại và Ông đã mắt thấy tai nghe và ngay cả chính Ông cũng là nạn nhân của sự thế . Cuối năm bước sang năm Thìn là tết con rồng, Ông đã làm một bài thơ tức cảnh như sau:
Vịnh tranh gà lợn
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Đây đích thực là hoạt cảnh của miền Nam sau mấy tháng về tay chủ mới: Chính quyền tiếp thu vào tay cộng sản chưa hoàn toàn kiểm soát được xã hội vốn vẫn thoải mái trong nếp sống từ bao năm qua. Dân chúng vẫn hoài nghi cách mạng cho nên tình thế chưa thấy gì làm sáng sủa. Mặt khác đa số người thuộc chế độ cũ  không tin miền Nam có thể dễ dàng rơi vào tay cộng sản như vậy nên thầm kín trong lòng vẫn ước mong lật ngược thế cờ khỏi cảnh tối tăm hiện tại.
Với bối cảnh xã hội như vậy, kẻ hồ hởi, người âm thầm cho nên nẩy sinh ra lắm vẻ, biết ai là ai bây giờ. Bức tranh xã hội thật là rắm rối. Cộng sản đi đến đâu thì mạng lưới công an rình rập nhòm ngó tới đó. Kẻ thân trong nhà cũng còn nghe lén để báo cáo lập công thì còn biết tin ai bây giờ. Cho nên nhìn bề ngoài đố biết lòng dạ ai thế nào.
Ngay như chính tác giả cũng đã là nạn nhân của lòng người đổi trắng thay đen. Số là Vũ-hoàng-Chương và gia đình đã từ lâu vẫn ở nhờ trên căn gác nhỏ trong biệt thự của bà Mộng-Tuyết (phu-nhân thi sĩ Đông-Hồ), Ông đã từng đặt tên đây là “gác mây” để Ông bạn với “ nàng thơ” và “nàng tiên nâu”. Thế nhưng từ khi có cán bộ từ ngoài bắc vào, Bà Mộng-Tuyết thì hồ hởi tiếp đón, còn Vũ-hoàng-Chương thì lặng lờ như không Cho nên Bà muốn đỡ phiền lụy sau này đã ngỏ ý muốn Ông dời nhà đi ở chỗ khác. Chính vì vậy mà thi sĩ họ Vũ đã phải dời sang Khánh hội ở nhờ nhà em vợ là thi sĩ Đinh-Hùng. Ôi tình nghiã bao năm như vậy mà chỉ vì một chút “quáng” đã làm cho huynh đệ ly tan ! Riêng đối với Ông, con người còn tình người, chân thật và chất phác thì vẫn “một tấc thành” không a dua xu nịnh với ai.
Bây giờ xuân và tết đến, thôi hãy quên hết moi sự mà nghe khúc tân thanh của năm con rồng. Theo tôi, ý giả của câu cuối bài thơ này là như vậy; nhưng nghĩ kỹ hơn,nếu chúng ta ở Saigon trong thời điểm đó thì “khúc tân thanh” ở đây chính là những loa tuyên truyền ra rả sáng chiều mà cộng sản đặt ở khắp phường phố. Cũng có thể nghĩ xa hơn, khúc tân thanh chỉ là sự rút gọn của “khúc Đoạn trường tân thanh” mà từ nay còn phải ngâm mãi. Với một bài thơ xuân như thế được phổ biến ra ngoài, thi sĩ Vũ-hoàng-Chương tránh sao khỏi bị bắt vì tội phản động. Nhưng chưa hẳn như vậy. 
Món  quà chiêu dụ bất  thành .
Hãy trở lại vài chục năm về trước, chúng ta được biết thi sĩ Vũ sinh năm 1916. Hai chục năm sau vào thời điểm thi sĩ trưởng thành thì phong trào thi ca lãng mạn nở rộ do ảnh hưởng của văn chương Pháp. Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thisĩ Vũ như anh.
Hai người cũng chơi với nhau khá thân. Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và  rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:
“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’
‘Lửa Thiêng’ xin đốt chờ ‘Mây’ xuống trần
 Vũ-hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:
‘ Mây’ kia chẳng chịu xuống  trần
Lửa ơi  theo khói lên gần với  ‘Mây’.
Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.
Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng muà xuân”.Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Vũ-hoàng-Chương, ông qủa là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.
Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.
Theo một bài đăng  trên “net”  của tác giả Sông-Lô  viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu,  được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu,  Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô  này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với  tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười “
Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:
“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái  ‘sáng giá’  của đêm họp  ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”
Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương;
“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng,tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế.Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ,nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.
 Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “
Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.
 Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp,thơ hay,  mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm“.
Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì  lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.
“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian,thời gian, chân lý cuộc sống.”
Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và  Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.
Niềm hãnh diện cuối đời : Thủ-tướng bưng bô.
Vũ-hoàng-Chương bị bắt vào khám Chí hòa, giam chung cùng một số nhà trí thức khác. Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm thiếu thuốc phiện thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bẹp trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976.

 
Phạm-công Bạch, CVA 57
 


Jun 11, 2015