Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN Leaders đặc biệt ': Tuyên bố Sunnylands


Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN Leaders đặc biệt ': Tuyên bố Sunnylands

Sunnylands, California
15-ngày 16 tháng 2 năm 2016
Chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hoa Kỳ tập trung tại Sunnylands, California, vào ngày 15-16, năm 2016, một nhà lãnh đạo đặc biệt Summit. Chức Năng Đặc Biệt Hoa Kỳ-ASEAN Hội nghị lần này là lần đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ và Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau khi thành lập Cộng đồng ASEAN.
Hội nghị đã đánh dấu một năm bước ngoặt cho cả ASEAN và cho ngày càng chặt chẽ Mỹ-ASEAN. quan hệ đối tác chiến lược. Trong năm 2015, các nước thành viên ASEAN đã tổ chức lễ thành lập Cộng đồng ASEAN, làm việc cùng nhau hướng tới một ASEAN mà tốt hơn phục vụ người dân của khu vực Đông Nam Á.
Tại Hội nghị thượng đỉnh của chúng tôi ở Kuala Lumpur vào tháng 11 năm 2015, chúng tôi nâng mối quan hệ Mỹ-ASEAN lên tầm đối tác chiến lược, công nhận việc chuyển đổi mối quan hệ của chúng tôi trong nhiều năm qua. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này, chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của ASEAN và Hoa Kỳ có cơ hội này để tái khẳng định những nguyên tắc quan trọng mà sẽ hướng dẫn hợp tác của chúng tôi đi về phía trước:
1. Đối Mutual cho chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia bằng cách vững chắc duy trì các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;
2. Tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế toàn diện bền vững và phát triển, và sự nuôi dưỡng của những người trẻ tuổi của chúng tôi để duy trì liên tục hòa bình, phát triển và ổn định vì lợi ích chung;
3. Công nhận lẫn nhau về tầm quan trọng của việc theo đuổi các chính sách dẫn đến nền kinh tế năng động, cởi mở và cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, đổi mới, tinh thần kinh doanh và kết nối, và các DNVVN hỗ trợ và thu hẹp khoảng cách phát triển;
4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả các dân tộc chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, tăng cường quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự khoan dung và điều độ, và bảo vệ môi trường;
5. Tôn trọng và hỗ trợ cho các trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN lãnh đạo trong cấu trúc khu vực phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương;
6. tuân thủ Công ty để một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ đó duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước;
7. cam kết chung để giải quyết hòa bình các tranh chấp, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS);
8. chung cam kết duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh hàng hải và an toàn, bao gồm cả quyền tự do hàng hải và hàng và sử dụng hợp pháp khác của các vùng biển, và không bị cản trở thương mại hàng hải hợp pháp như được mô tả trong Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự và tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;
9. chung cam kết tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;
10 quyết tâm mạnh mẽ để dẫn về các vấn đề toàn cầu như khủng bố và chủ nghĩa cực đoan bạo lực, buôn bán người, buôn bán ma túy, và bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định đánh bắt cá, cũng như buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã và gỗ;
11. chung cam kết để giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển bền vững về môi trường ASEAN với khí hậu, cũng như để thực hiện cá nhân đóng góp quyết tâm quốc gia nước được thực hiện theo Hiệp định Paris khí hậu;
12. chung cam kết thúc đẩy an ninh và ổn định trong không gian mạng phù hợp với các chuẩn mực về hành vi của nhà nước chịu trách nhiệm;
13. Hỗ trợ cho sự tiến bộ của một mạnh mẽ, ổn định, gắn kết về chính trị, kinh tế tổng hợp, trách nhiệm xã hội, người định hướng, người làm trung tâm và dựa trên luật Cộng đồng ASEAN;
14. chung cam kết tăng cường kết nối người với người thông qua các chương trình tham gia ASEAN và công dân Mỹ, những người đặc biệt là giới trẻ, và quảng bá cơ hội cho tất cả dân tộc chúng ta, đặc biệt dễ bị tổn thương nhất, để thực hiện tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN;
15. chung cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển bền vững thông qua việc thực hiện của năm 2030 Chương trình nghị sự phát triển bền vững và Chương trình hành động Addis Ababa, để đảm bảo một xã hội bền vững, công bằng và toàn diện mà không có ai để lại đằng sau;
16. chung cam kết tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt là tại các cơ chế do ASEAN lãnh đạo hiện có; và
17. chung cam kết tiếp tục đối thoại chính trị tại Trụ cấp Chính phủ / Nhà nước thông qua tham dự lãnh đạo của chúng tôi 'tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN hàng năm và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách

Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách

TT - GS Vũ Dương Ninh, ủy viên đoàn chủ tịch Hội Khoa học lịch sử VN, đã cho biết như vậy. Và điều này cũng là mong muốn của rất nhiều bạn đọc khi phản hồi các bài viết về cuộc chiến vệ quốc này trên Tuổi Trẻ những ngày vừa qua.
Cuộc chiến bảo vệ biên giới 1979: nên đưa đầy đủ vào sử sách Phóng to
Ông Trương Tấn Sang - khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư - đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 - Ảnh tư liệu
* Thưa giáo sư, là một trong những người biên soạn bộ sách giáo khoa (SGK) lịch sử hiện hành, xin giáo sư cho biết ý kiến về việc rất nhiều công dân là phụ huynh và học sinh đề nghị nên có sự chỉnh sửa, đổi mới SGK lịch sử, nhất là bổ sung và làm rõ những tư liệu lịch sử về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979?
- GS Vũ Dương Ninh: Không chỉ SGK nói riêng mà nhận thức chung của mọi người dân VN cần phải biết về sự thật lịch sử. Cuộc chiến tranh biên giới diễn ra đã khá lâu, đủ độ lùi lịch sử để đưa vào SGK phổ thông cho thế hệ con cháu của chúng ta hiểu được đã xảy ra một sự việc: người Trung Quốc đã tấn công người VN, xâm lược lãnh thổ VN và chúng ta đã phải tiến hành một cuộc kháng chiến để bảo vệ lãnh thổ. Tôi cho rằng đây là thời điểm thích hợp để bổ sung bài học về sự kiện này vào SGK.
UxAgltP6.jpg
GS Vũ Dương Ninh - Ảnh: Ngô Vương Anh
* Thưa giáo sư, việc đưa sử liệu vào SGK có những đặc thù riêng, không như công trình nghiên cứu hay bài báo, theo giáo sư, cuộc chiến tranh biên giới cần được đưa vào SGK như thế nào?
- Để đưa vào SGK, phải bảo đảm tính chân thực lịch sử, tính chân thực thể hiện ở cách tường thuật lại sự kiện, ở những phân tích thấu đáo về nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh, tại sao đối phương lại xâm lược và tại sao chúng ta chống lại.
Bài học trong SGK cũng phải đưa ra được những tấm gương cụ thể, những chiến công cụ thể trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Những tấm gương và những chiến công ấy phải được vinh danh như những anh hùng trong suốt chiều dài lịch sử như các anh hùng chống Nguyên Mông, Minh, Thanh, Pháp, Mỹ... Điều quan trọng nhất của bài học lịch sử trong SGK là phải làm rõ được lòng yêu nước và tính chính nghĩa trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đó
* Nhưng cũng có không ít ý kiến e ngại rằng đưa cuộc chiến tranh biên giới vào SGK sẽ dạy cho trẻ em sự thù hận và làm ảnh hưởng đến quan hệ hữu hảo với láng giềng mà chúng ta đang muốn gìn giữ, giáo sư nghĩ sao về điều này?
- Tôi không nghĩ như vậy. Chúng ta vừa kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris, 45 năm sự kiện Mậu Thân, và như thế hoàn toàn không có nghĩa là khơi dậy hận thù với Mỹ. Ngược lại, nhìn lại và phân tích những bài học từ cuộc chiến, hai bên hiểu nhau hơn và cùng khép lại quá khứ để hướng tới một tương lai hợp tác tin cậy hơn.
Cuộc chiến tranh biên giới không nên bị né tránh như vậy, chúng ta phải cho con em chúng ta biết là lịch sử đã xảy ra như thế. Vấn đề là cách chúng ta viết sao cho học sinh nhận biết được đúng sự thật lịch sử một cách khách quan. Quan trọng hơn các em sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm về xây dựng quan hệ bang giao với các nước để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia.
* SGK lịch sử hiện tại chỉ có không đến 10 dòng về cuộc chiến biên giới, theo giáo sư thì sự thay đổi nên có liều lượng như thế nào và bắt đầu từ bao giờ?
- Đúng là hiện tại SGK nhắc đến chiến tranh biên giới quá ít. Thật ra vào thời điểm viết sách cách đây 7-8 năm thì đưa được chừng ấy dòng vào SGK cũng là một sự quyết tâm của các tác giả. SGK lịch sử phổ thông phần hiện đại có hai vòng: vòng lớp 9 và vòng lớp 12. Vòng nào chúng ta cũng phải đưa sự kiện chiến tranh biên giới vào, với những mức độ khác nhau, phụ thuộc trình độ nhận thức của học sinh.
Ở lớp 9 cần thông tin sự kiện với mức độ để các em biết được có một cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc đã diễn ra trong thời điểm như vậy, tổn thất và chiến thắng ra sao. Ở lớp 12 thì phân tích có ngọn ngành nguyên nhân, tính chất cuộc chiến, những bài học lịch sử như tôi đã nói ở trên.
Hiện tại tôi không còn ở trong hội đồng biên soạn SGK lịch sử, nhưng với tư cách một người nghiên cứu lịch sử, tôi đề nghị Bộ GD-ĐT nên tiến hành việc bổ sung SGK lịch sử càng sớm càng tốt. Cách viết thì tùy thuộc từng tác giả nhưng sự việc năm 1979 nhất thiết phải đưa vào SGK, làm cho học sinh hiểu rõ tính chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và phải vinh danh những chiến sĩ, đồng bào đã hi sinh trên trận tuyến này.
GS NGUYỄN MINH THUYẾT:
Có thể đưa sớm vào SGK tiếng Việt
Chiến tranh biên giới phía Bắc, sự kiện lịch sử ngày 17-2-1979 và cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền đất nước giai đoạn đó chắc chắn là nội dung cần phải đưa vào sử nước nhà. Để thể hiện nội dung này ở SGK lịch sử dạy cho học sinh trong nhà trường phổ thông thì trước hết nó cần phải được thể hiện trong thông sử. Vì người viết SGK phải dựa vào thông sử để viết sách.
Tuy nhiên, là một người chủ biên SGK tiếng Việt, quan điểm của tôi là nếu có một cuộc biên soạn SGK phổ thông mới và được đảm nhận trách nhiệm chủ biên, tôi sẽ đưa vào SGK những bài liên quan đến sự kiện đấu tranh chống giặc ngoại xâm ở biên giới phía Bắc. Nếu như SGK lịch sử cần phải dựa vào thông sử, phải chính xác, cụ thể thì ở phân môn tiếng Việt nói riêng và môn ngữ văn nói chung, hoàn toàn có thể đưa vào những câu chuyện, bài thơ, bài viết ca ngợi cuộc đấu tranh của dân tộc, ca ngợi những người con đất Việt đã chiến đấu, hi sinh vì Tổ quốc ở giai đoạn lịch sử bi tráng này.
VĨNH HÀ ghi
20/02/2013 08:30 
Ông ĐỖ NGỌC THỐNG (phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học Bộ GD-ĐT, thường trực Ban biên soạn chương trình - SGK sau năm 2015)
Giáo dục lòng yêu nước là một định hướng xây dựng SGK
Là người bao quát chung việc biên soạn chương trình - SGK sau năm 2015, tôi cho rằng những vấn đề đang nóng, có tính thời sự, được đông đảo người dân quan tâm và đó lại là vấn đề có thể giáo dục ý thức tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước cho thế hệ trẻ thì hoàn toàn có thể tính đến việc đưa vào SGK. Nhưng đưa như thế nào, liều lượng ra sao thì cần phải nghiên cứu, cân nhắc thận trọng.
Cụ thể việc đưa hay không đưa nội dung về chiến tranh biên giới phía Bắc và sự kiện 17-2-1979 vào SGK lịch sử, ban soạn thảo cần phải tham khảo ý kiến của Hội Khoa học lịch sử, các chuyên gia về lịch sử. Hiện chúng tôi đang hoàn thiện bản định hướng chung để xây dựng chương trình - SGK áp dụng cho tất cả các môn học. Một trong những định hướng chúng tôi đặt ra là giáo dục tư tưởng, lòng yêu nước cho học sinh. Với định hướng này, không chỉ SGK lịch sử mà ở các môn học khác cũng có thể nghiên cứu đưa các nội dung mới phù hợp. Ví dụ như ở SGK địa lý hoàn toàn có thể đưa vào các nội dung mới hơn về biển đảo, giáo dục ý thức về bảo toàn lãnh thổ VN.
VĨNH HÀ ghi

TẠI SAO VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG BỊ BẮT VÀO TÙ KHÁM LỚN?

TẠI SAO VŨ-HOÀNG-CHƯƠNG BỊ BẮT VÀO TÙ KHÁM LỚN?
Nguồn: Internet (tredeponline)
Jun 11, 2015
Chúng ta ai cũng đã từng nghe : 
"Nam Kỳ khởi nghĩa tiêu Công Lý,
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do".
Nhưng ít người biết tác giả 2 câu này chính là: nhà thơ Vũ Hoàng Chương. (HL)
 
Đã là cựu học sinh Chu-văn-An, ai không biết thi sĩ Vũ-hoàng-Chương là một vị giáo-sư Việt Văn rất đáng mến. Quả thật vậy, trong cuộc đời thi sĩ, Ông đã từng xuất bản cả chục tập thơ và kịch thơ , cũng như trong nghề dạy học, ai đã từng là học trò Ông  thảy đều thương kính, coi Ông như một vị giáo sư có đầy đủ tác phong về đạo đức và sư phạm. Hơn thế nữa, hãy xem nhà văn Song-Thao (cũng là một cựu học sinh Chu-văn-An) mô tả Ông trong tập truyện “Chốn cũ” vừa xuất bản:
"Thầy đi quanh lớp bằng những bước chân nhẹ nhàng, đầu nghểnh cao, mắt xa vắng, giảng bài bằng cái giọng nhừa nhựa thanh thanh. Có những lúc mắt thầy như nhắm hẳn lại, đầu lắc lắc từng chặp. Những lúc đó thầy như thoát hồn bay về một trời thơ nào đó. Thầy say thơ. Thầy ngâm thơ như một người đồng thiếp. Như không còn thầy. Như không có trò. Như không phải là một lớp học. Chỉ có một cõi thơ lồng lộng bát ngát. Chúng tôi cũng thấm thơ. Vô cùng nồng nàn là những dòng thơ đất Việt. Chỉ có tiếng chuông báo hết giờ học mới có thể kéo thầy trò ra khỏi cơn mê văn chương…”
Làm thơ đã hay, dạy học thì say mê như thế, Vũ-hoàng-Chương không hề làm chính trị. Hồi toàn quốc kháng chiến  năm 1946, Ông cũng chỉ  tản cư khỏi thành phố một thời gian rồi  lại hồi cư, chứ không ra bưng. Từ năm 1954 khi di cư vào Saigon, Ông cũng không tham gia một đảng phái nào. Thế nhưng cuộc đổi đời ” tháng tư đen” đã đưa Ông vào tù  và chỉ được tha về khi kiệt lực gần chết. Chúng ta thử tìm hiểu nguyên do nào đã đưa Ông vào vòng lao lý gần một năm trời. Với thân hình gầy còm và “ả phù dung” dằn vặt làm sao Ông sống nổi. Kể ra cũng có nhiều lý do xa gần.
 Bài thơ hoạt cảnh Tết Con Rồng.
 Miền nam ViệtNam bị mất về tay cộng sản tháng tư năm 75 thuộc năm Mão. Cuộc đổi đời đã gây ra nhiều cảnh éo le cả về hoàn cảnh xã hội lẫn nhân tình thế thái. Vũ-hoàng-Chương bị kẹt lại và Ông đã mắt thấy tai nghe và ngay cả chính Ông cũng là nạn nhân của sự thế . Cuối năm bước sang năm Thìn là tết con rồng, Ông đã làm một bài thơ tức cảnh như sau:
Vịnh tranh gà lợn
Sáng chưa sáng hẳn, tối không đành,
Gà lợn om sòm rối bức tranh.
Rằng vách có tai, thơ có hoạ
Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh.
Mắt gà huynh đệ bao lần quáng
Lòng lợn âm dương một tấc thành.
Cục tác nữa chi, ngừng ủn ỉn
Nghe rồng ngâm váng khúc tân thanh.
Đây đích thực là hoạt cảnh của miền Nam sau mấy tháng về tay chủ mới: Chính quyền tiếp thu vào tay cộng sản chưa hoàn toàn kiểm soát được xã hội vốn vẫn thoải mái trong nếp sống từ bao năm qua. Dân chúng vẫn hoài nghi cách mạng cho nên tình thế chưa thấy gì làm sáng sủa. Mặt khác đa số người thuộc chế độ cũ  không tin miền Nam có thể dễ dàng rơi vào tay cộng sản như vậy nên thầm kín trong lòng vẫn ước mong lật ngược thế cờ khỏi cảnh tối tăm hiện tại.
Với bối cảnh xã hội như vậy, kẻ hồ hởi, người âm thầm cho nên nẩy sinh ra lắm vẻ, biết ai là ai bây giờ. Bức tranh xã hội thật là rắm rối. Cộng sản đi đến đâu thì mạng lưới công an rình rập nhòm ngó tới đó. Kẻ thân trong nhà cũng còn nghe lén để báo cáo lập công thì còn biết tin ai bây giờ. Cho nên nhìn bề ngoài đố biết lòng dạ ai thế nào.
Ngay như chính tác giả cũng đã là nạn nhân của lòng người đổi trắng thay đen. Số là Vũ-hoàng-Chương và gia đình đã từ lâu vẫn ở nhờ trên căn gác nhỏ trong biệt thự của bà Mộng-Tuyết (phu-nhân thi sĩ Đông-Hồ), Ông đã từng đặt tên đây là “gác mây” để Ông bạn với “ nàng thơ” và “nàng tiên nâu”. Thế nhưng từ khi có cán bộ từ ngoài bắc vào, Bà Mộng-Tuyết thì hồ hởi tiếp đón, còn Vũ-hoàng-Chương thì lặng lờ như không Cho nên Bà muốn đỡ phiền lụy sau này đã ngỏ ý muốn Ông dời nhà đi ở chỗ khác. Chính vì vậy mà thi sĩ họ Vũ đã phải dời sang Khánh hội ở nhờ nhà em vợ là thi sĩ Đinh-Hùng. Ôi tình nghiã bao năm như vậy mà chỉ vì một chút “quáng” đã làm cho huynh đệ ly tan ! Riêng đối với Ông, con người còn tình người, chân thật và chất phác thì vẫn “một tấc thành” không a dua xu nịnh với ai.
Bây giờ xuân và tết đến, thôi hãy quên hết moi sự mà nghe khúc tân thanh của năm con rồng. Theo tôi, ý giả của câu cuối bài thơ này là như vậy; nhưng nghĩ kỹ hơn,nếu chúng ta ở Saigon trong thời điểm đó thì “khúc tân thanh” ở đây chính là những loa tuyên truyền ra rả sáng chiều mà cộng sản đặt ở khắp phường phố. Cũng có thể nghĩ xa hơn, khúc tân thanh chỉ là sự rút gọn của “khúc Đoạn trường tân thanh” mà từ nay còn phải ngâm mãi. Với một bài thơ xuân như thế được phổ biến ra ngoài, thi sĩ Vũ-hoàng-Chương tránh sao khỏi bị bắt vì tội phản động. Nhưng chưa hẳn như vậy. 
Món  quà chiêu dụ bất  thành .
Hãy trở lại vài chục năm về trước, chúng ta được biết thi sĩ Vũ sinh năm 1916. Hai chục năm sau vào thời điểm thi sĩ trưởng thành thì phong trào thi ca lãng mạn nở rộ do ảnh hưởng của văn chương Pháp. Cùng thời với Vũ-hoàng-Chương còn có rất nhiều văn nhân thi sĩ khác cùng nổi tiếng trên văn thi đàn, trong đó có Huy-Cận (tên thật là Cù-huy-Cận) sinh năm 1919. Huy-Cận cũng là một nhà thơ nổi tiếng, điển hình là bài “Ngậm ngùi” đã được phổ nhạc mà chúng ta thường nghe. Huy-Cận kém Vũ-hoàng-Chương ba tuổi và xuất bản tập thơ đầu “Lửa Thiêng” sau khi Vũ-hoàng-Chương đã có thi tập “Thơ say” và “Mây” đang sắp phát hành. Vì thế Huy-Cận coi thisĩ Vũ như anh.
Hai người cũng chơi với nhau khá thân. Một hôm Huy-Cận bất ngờ gặp Vũ-hoàng-Chương và  rủ Ông đi ăn phở. Vì mới ra tập thơ đầu lại cũng có ý thân mật so sánh nên Huy-Cận nửa đùa nửa thật vỗ vai Vũ-hoàng-Chương nói rằng:
“Đã lâu lại gặp ‘chàng Say’
‘Lửa Thiêng’ xin đốt chờ ‘Mây’ xuống trần
 Vũ-hoàng-Chương cũng hơi khựng một chút, nhưng vui vẻ đáp ngay:
‘ Mây’ kia chẳng chịu xuống  trần
Lửa ơi  theo khói lên gần với  ‘Mây’.
Hai người đối đáp với nhau như thế, vừa có ý kiêu ngạo, vừa có ý thân thiện, thật xứng đôi. Rồi thời gian trôi qua, năm 1946 Huy-Cận ra bưng theo kháng chiến dùng thi tài của mình để phục vụ bác và đảng, được sủng ái nên đã có thời leo lên đến chức Thứ trưởng bộ Văn hóa. Vũ-hoàng-Chương thì chạy tản cư, cũng có làm một số bài thơ ái quốc, nhưng sau đó hồi cư về lại Hanoi rồi di cư vào Saigon theo hiệp định Genève năm 1954, vẫn tiếp tục nghiệp thơ và sinh sống bằng nghề dạy học.
Vật đổi sao dời, năm 1975 miền nam bị bỏ rơi và cộng sản thắng đại cái “đại thắng muà xuân”.Và hai thi nhân lại có dịp gặp nhau trong hoàn cảnh éo le quốc cộng. Huy-Cận được cử vào Saigon cùng với một phái đoàn với mục đích thăm dò và chiêu dụ các văn nghệ sĩ miền Nam.
Dĩ nhiên người mà Huy-Cận muốn gặp đầu tiên là Vũ-hoàng-Chương cũng vì tình bạn cũ và cũng nghĩ rằng nếu chiêu dụ được Vũ theo cách mạng thì mình lập được công lớn. Vì vậy Huy-Cận đã sửa soạn cuộc thăm viếng rất trọng thể. Lễ vật đến thăm Vũ-hoàng-Chương gồm một chai rượu quí, một lọ đầy thuốc phiện và cũng không quên mang theo một bức hình Hồ chí Minh. Rượu và thuốc thì để biếu bạn, còn bức hình thì Huy-Cận ước mong sẽ được Vũ-hoàng-Chương đề tặng cho mấy vần ca ngợi để có bằng chứng báo cáo lấy công đầu.
Cuộc gặp gỡ diễn ra tốt đẹp sau bao năm xa cách. Vũ-hoàng-Chương đón Huy-Cận như một bạn cố tri nồng nàn vui vẻ. Sau khi Huy-Cận ngỏ ý muốn Vũ đề thơ thì Ông trầm mặc không nói gì. Huy-Cận khi ra về có hẹn ba ngày sau sẽ cho người đến xin lại bức hình, Vũ-hoàng-Chương cũng chỉ ậm ừ tiễn bạn.
Đúng ba ngày sau khi nhân viên của Huy-Cận tới thì thấy trên bàn vẫn còn y nguyên hai món lễ vật và bức hình, Vũ-hoàng-Chương không hề đụng tới mặc dù rượu với thuốc phiện đối với Ông là rất quí hiếm. Còn bức hình thì vẫn chỉ là bức hình như khi đem tới,không một nét chữ đề. Được báo cáo lại, dĩ nhiên là Huy-Cận tím mặt. Nhưng Ông biết tính họ Vũ là ngưòi không dễ lung lạc nên cũng đành thôi.
Vũ-hoàng-Chương, ông qủa là một người có khí phách. Ông có một cơ hội an thân nhưng Ông đã không làm, chỉ vì tấm lòng Ông “một tấc thành” nên Ông phải giữ tiết tháo không a dua theo thời cuộc. Thế là lại có thêm một cái ‘họa’. Nhưng như thế vẫn chưa hết.
Chê thơ Tố-Hữu và dạy cộng sản cách làm thơ.
Theo một bài đăng  trên “net”  của tác giả Sông-Lô  viết về Vũ-hoàng-Chương nhận xét thơ Tố-Hữu,  được biết phái đoàn từ bắc vô nam cùng với Huy-Cận như đã nói ở đoạn trên còn có nhiều nhân vật sáng giá khác như Tố-Hữu,  Hoài-Thanh, Xuân-Diệu, Vũ-đình-Liên…. Phái đoàn được ký giả nằm vùng Thanh-Nghị tiếp đón và tổ chức một đêm”họp mặt văn nghệ” với các nhân vật gạo cội miền Nam để cùng đánh giá văn hoá hai miền ngõ hầu thống nhất tư tưởng về một mối. Buổi họp này Vũ-hoàng-Chương đã được mời và có tham dự. Đề tài được đưa ra là mấy câu thơ của Tố-Hữu đã làm để khóc Stalin khi ông trùm đỏ Nga-sô  này chết vào năm 1953. Hai câu thơ đã gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp cùng đầy đủ tiếng khen chê đối với  tên trùm văn nghệ cộng sản này là câu:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương ông thương mười “
Thanh-Nghị với tư cách nằm vùng theo cộng sản từ lâu, coi như đại diện miền nam, dĩ nhiên ca ngợi thơ Tố-Hữu hết mình. Rồi lần lượt đến Xuân-Diệu, Huy-Cận, Vũ-đình-Liên từ ngoài bắc vào lên diễn đàn thì khỏi nói. Cũng cần có một tiếng nói miền nam cho xôm tụ, cho nên Hoài-Thanh khẩn khoản mời Vũ-hoàng-Chương lên phát biểu với dụng ý là họ Vũ, một thi bá đương thời, nhưng vốn người trầm mặc hiền hoà chắc cũng chỉ vuốt theo mà không nói điều gì nghịch ý. Xin trích nguyên văn sau đây một đoạn của Sông-Lô:
“Ai đã biết Vũ-hoàng-Chương ắt phải biết cái đanh thép bên trong tấm thân nhỏ bé ọp ẹp của ông. Đôi ba lần tạ từ không được, đành nhảy vào ưỡn ngực “ hò kéo pháo”, nhưng trước khi vào cuộc họ Vũ đã yêu cầu cử tọa thông cảm nếu có chỗ nào thất thố vì ông sợ rằng những gì ông muốn trình bày sẽ làm tổn thương cái  ‘sáng giá’  của đêm họp  ‘văn nghệ đặc biệt’ này, bởi vì ‘tất tần tật’ đã thẩm định rồi.”
Sau đây là lời của Vũ-hoàng-Chương;
“Thi nhân từ cảm xúc mỗi lúc tác động vào tâm cảnh của mình, để hồn trí phản ứng theo thất tình con người mà vận dụng thi tứ phổ diễn nên lời một tình tự nào đó, rồi đãi lọc thành thơ. Sự vận dụng càng xuất thần, việc phổ diễn càng khẩu chiếm, thơ càng có giá trị cao.
Cảm xúc trước cái chết của một thần tượng được ‘đóng khung’ tự bao giờ trong tâm cảnh mình, Tố-Hữu đã xuất thần vận dụng nỗi u hoài, phổ diễn nên những lời thơ thật khẩu chiếm, rồi dùng những từ thật tầm thường, ít thi tính, đãi lọc nỗi u hoài của mình thành một tiếng nấc rất tự nhiên, đạt đến một mức độ điêu luyện cao. Lời thẩm định của Thanh-Nghị thật xác đáng,tôi chịu. Nhưng thơ không phải chỉ có thế.Xuất thần khẩu chiếm thuộc phạm vi kỹ thuật, dù đã có thi hứng phần nào, và nếu chỉ có thế thì thơ chỉ có khéo mà thôi, chưa gọi là đạt; tức chưa phải là hay. Thơ hay cần phải khéo như thế vừa phải đạt thật sự. Thi hứng nằm trong sự thực của tình tự phổ diễn nên lời. Tình tự mà không thực, lời thơ thành gượng ép. Vấn đề của thơ,nói cho đến nơi, là ở đây, có nghiã là thơ phải thực.
 Tố-Hữu đặt tiếng khóc của chính mình vào miệng một bà mẹ Việtnam, muốn bà dùng mối u hoài của một nhà thơ để dạy con trẻ Việtnam yêu cụ Stalin thay cho mình. Cũng chẳng sao vì đó cũng là một kỹ thuật của thi ca; nhưng trước hết phải biết bà mẹ Việtnam có cùng tâm cảnh với mình không, có chung một mối cảm xúc hay không?
Tôi biết chắc là không. Bởi trong đoạn trên của hai câu lục bát này trong bài ‘Đời đời nhớ Ông’ Tố-Hữu đã đặt vào lời bà mẹ hai câu:
“Yêu biết mấy nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin “
Chắc chắn là không có một bà mẹ Việtnam nào, kể cả Bà Tố-Hữu, mà thốt được những lời như vậy một cách chân thành. Cái không thực của hai câu này dẫn tới cái không thực hai câu sau ta đang mổ xẻ.
 Một tình tự không chân thực, dù đươc luồn vào những lời thơ xuất thần, khẩu chiếm đến đâu cũng không phải là thơ đẹp,thơ hay,  mà chỉ là thơ khéo làm; đó chỉ là thơ thợ chứ không phải là thơ tiên. Loại thơ khéo này người thợ thơ nào lành nghề cũng quen làm, chẳng phải công phu lắm. Nhất là nếu có đòi hỏi một tuyên truyền nào đó. Tố-Hữu nếu khóc lấy, có lẽ là khóc thực, khóc một mình. Nhưng bà mẹ Việtnam trong bài đã khóc tiếng khóc tuyên truyền, không mấy truyền cảm“.
Vẫn theo lời kể của Sông-Lô thì  lời thẩm định này đã gây sôi nổi trong đám thính giả có mặt hôm đó. Muốn phản bác luận điệu của Vũ-hoàng-Chương, có người đã yêu cầu Ông nói về thơ để hòng bắt bẻ này nọ, nhưng Ông vẫn ôn tồn phát biểu:
“Thơ vốn là mộng, là tưởng tượng, là tách rời thực tế, nhưng mộng trên những tình tự thực. Không chấp nhận loại thơ tình tự hoang. Có khoa học giả tưởng, không có thơ giả tưởng. Nói thơ là nói đến thế giới huyễn tưởng, huyễn tưởng trên sự thực để thăng hoa sự thực, chứ không bất chấp, không chối bỏ sự thực. Nhà thơ không được láo; nhà thơ phải thực nhưng thoát sáo sự thực thành mộng để đưa hồn tính người yêu thơ vươn lên sự thực muôn đời đạt đến chân lý cuộc sống. Thiên chức thi ca là ở chỗ đấy.
“Tôi xin nhắc ; sự thực muôn đời là cơ sở duy nhất của thi ca; vì có sự thực cho riêng một người, có sự thực cho riêng một thời, nhưng vẫn có sự thực cho muôn đời, sự thực bao quát không gian,thời gian, chân lý cuộc sống.”
Sau đêm hôm ấy, hình như có một buổi họp khẩn cấp của các “nhân vật then chốt” cộng sản, và  Vũ-hoàng-Chương đã bị bắt. Như vậy cái tội phản động của thi sĩ họ Vũ không phải là một mà có đến ba : bắt đầu từ bài thơ thời sự , kế đến không nể nang tình bạn và sau cùng là đã dạy khôn cho kẻ đang thắng thế. Theo Sông-Lô thì Vũ-hoàng-Chương không phải là người dại, cũng không phải người can đảm mà Ông chính là người của tự do không phải quị lụy trước bất cứ một áp lực nào.
Niềm hãnh diện cuối đời : Thủ-tướng bưng bô.
Vũ-hoàng-Chương bị bắt vào khám Chí hòa, giam chung cùng một số nhà trí thức khác. Với thân hình gầy yếu sẵn có, phải ăn cơm tù đạm bạc lại thêm thiếu thuốc phiện thì làm sao mà Ông chịu nổi. Có thể nói bao nhiêu ngày trong tù, Ông đau yếu cả bấy nhiêu ngày. Sức lực Ông kiệt quệ dần dần, đã có lúc phải nằm liệt giường. Chính quyền “giải phóng” biết Ông không còn sống nổi bao lâu, nên sau thời gian giam giữ đã quyết định thả Ông về để tránh tiếng Ông bị bức tử trong tù. Về nhà gặp lại vợ con, dĩ nhiên là Ông mừng rỡ, nhưng trong đáy lòng hình như Ông có điều gì thỏa mãn vì tuy nằm bẹp trên giường Ông không có vẻ sầu héo bi lụy của một người gần đất xa trời. Một hôm Ông thố lộ là ở trong tù Ông có phần thích thú vì đã được Thủ-tướng bưng bô vệ sinh cho mình. Mãi sau người nhà Ông mới biết bị giam chung cùng với Ông là Bác sĩ Phan-huy-Quát. Bác sĩ Quát đã có thời làm Thủ-tướng chính phủ dân sự do Cụ Phan-khắc-Sửu là Quốc trưởng. Vì mến thương Vũ-hoàng-Chương và vì lương tâm của người y sĩ, trong thời gian bị giam chung, Bác sĩ Quát đã tận tình chăm sóc cho nhà thi sĩ bất hạnh đau yếu, và không ngần ngại giúp đỡ cả việc vệ sinh hàng ngày. Đó là niềm vui cuối cùng của thi sĩ họ Vũ trước khi Ông lìa đời ngày 6 tháng 9 năm 1976.

 
Phạm-công Bạch, CVA 57
 


Jun 11, 2015

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

Chùa Ông kỳ lạ và linh thiêng giữa lòng TP.HCM

Chùa Ông kỳ lạ và linh thiêng giữa lòng TP.HCM

Sự kiện: Dòng đời       ( Thứ Tư, ngày 17/07/2013 07:03 AM (GMT+7)

Ở trung tâm Q.5, TP.HCM, nằm lọt thỏm giữa một vùng đô thị thương mại sầm uất có một ngôi chùa nhỏ mang tên chùa Minh Hương nổi tiếng linh thiêng.

   
Đó là địa chỉ tâm linh của cộng đồng người Hoa và cả người Việt tìm đến để cầu nguyện mỗi ngày.
Ngôi chùa không quá bề thế, nhưng không gian tâm linh uy nghiêm, thoát tục, cộng với những câu chuyện linh thiêng thường xuyên xảy ra, khiến chùa lúc nào cũng như khoác lên mình chiếc áo bí ẩn và đầy lôi cuốn.
chua ong ky la va linh thieng giua long tp.hcm hinh anh 1
Khấn nguyện ở chánh điện thờ Quan Thánh Đế
Chùa Minh Hương còn được gọi là chùa Ông hay chùa Quan Đế Thánh quân, tức theo tục thờ Quan Vân Trường thuở trước đã in vào lối sống của người Hoa và cả người Việt hiện nay. Dù không thuộc loại nhất nhì về quy mô, nhưng theo khẳng định của nhiều người thì sự linh thiêng của chùa đã nức tiếng xa gần.

Nhiệm mầu kỳ lạ 

Chùa Minh Hương nằm ở số 184 Hồng Bàng, P.12, Q.5, TP.HCM, gọn ghẽ và khiêm nhường giữa những tòa nhà thương mại sầm uất. Trước cổng chùa có vài quầy bán nhang đèn vàng mã của người Hoa lẫn người Việt, tất cả tuyệt nhiên trật tự và yên tĩnh, không có sự xô bồ náo nhiệt như quang cảnh ở nhiều cổng chùa khác. Hỏi ra mới biết không phải vì khách đến ít, mà vì sự tôn nghiêm trật tự đã thành lề lối xưa nay, cũng không có sự tách biệt, xa lạ giữa các chức vị, nhân viên nhà chùa, vốn đã có và thành thông lệ đáng buồn ở nhiều nơi. Nhà chùa lập một bãi giữ xe miễn phí trước cổng, khách đến, dù bất cứ ai cũng được hướng dẫn tận tình.

Đến chùa vào một buổi chiều mưa nặng hạt, nhưng tôi thấy khách đến vẫn rất đông, già trẻ lớn bé, trong ngoài nườm nượp, người quỳ lạy, người thắp nhang khấn nguyện. Nhiều người cặm cụi trên những chiếc bàn, viết những lời khấn nguyện vào tờ giấy đỏ trước khi mang đi đốt, như gửi lời cầu nguyện đến đấng linh thiêng. “Cháu cầu gì? Đến đây khấn nguyện là đúng địa chỉ rồi đó.

Chùa này thiêng nổi tiếng thành phố” - bà Hoa tuổi ngoài 60, dáng người mảnh khảnh cười rạng rỡ, nói với phóng viên. Thấy khách có vẻ lớ ngớ, bà đon đả cười nói rồi dẫn tôi vào cổng chùa, đi sâu vào bên trong tham quan, như một hướng dẫn viên thực thụ. Bà cho biết, người đến chùa cầu khấn nhiều thứ, từ sức khỏe-tình duyên, đến con cái-tiền tài... “Chỉ cần thành tâm gửi mong muốn đến quan Ông, sẽ được chứng giám” - bà khẳng định.

Bà đưa ra nhiều phân tích thú vị khác, rằng chùa ở thành phố này phân ra nhiều loại, có những ngôi chùa nổi tiếng và chỉ chuyên về một lĩnh vực cầu khấn nào đó, như chùa cầu con, chùa cầu duyên, chùa cầu tài... Riêng chùa Ông này nổi tiếng thiêng ở tất cả các lĩnh vực, nhưng cũng được người ta tự quy định với nhau là nơi cầu an và cầu tài. Mỗi dịp lễ tết, chùa nêm chặt hàng ngàn người.

Có lẽ vì thế mà lượng khách đến đây, rất nhiều người thuộc giới kinh doanh làm ăn hoặc đang có những trắc trở về sức khỏe. “Chuyện gì không biết chớ chuyện nhiều người cầu tài ở đây đã được chứng giám rồi đó. Có người làm ăn thành đạt, mỗi năm còn vào lễ thay áo cho quan Ông và cúng vàng thật nữa” - bà Hoa kể. Hồi trước có nhiều người nghèo khổ đến khấn nguyện được Ông chứng giám, rất nhiều trong số họ tháng nào cũng quay lại lễ tạ.

Vì vậy, chùa ngày càng nổi tiếng về việc cầu tài. Thấy bà Hoa rành rẽ mọi chuyện về chùa Ông này, hỏi ra mới biết bà ở gần chùa, ngày nào cũng vào chùa, lâu dần đã thành một thói quen. “Dì đã luống tuổi, gia đình con cái thành đạt cả rồi. Vào đây chỉ xin cho tâm tĩnh, sống lâu với con cháu thôi. Không mưu cầu điều gì khác. Dì biết quan Ông sẽ thấu tỏ, phù hộ cho mình, chỉ cần sống tốt đẹp, không tham lam là được” - bà nói.

Đi một vòng đại sảnh ngôi chùa uy nghiêm, tôi ấn tượng với một người đàn ông ngồi trên chiếc bàn nhỏ, hí hoáy viết những dòng chữ lên các tấm giấy màu đỏ bằng chữ Hán. Được hỏi thì ông nói rằng đó là những ý nguyện, tâm tư mà gia đình ông gửi đến quan Ông. “Chuyện người khác chú không biết đúng sai.

Nhưng chuyện nhà chú thì chắc chắn đã được Ông phù hộ” - người đàn ông tên A Tiểu, năm nay ngoài lục tuần tâm sự. Gia đình ông buôn bán ở chợ Bình Tây, hai vợ chồng lấy nhau nhiều năm nhưng chưa có con. Đến năm 1982, vợ ông mang thai con gái đầu lòng, chưa kịp vui mừng thì khi thai được một tháng tuổi, vợ ông bỗng nhiên bị á khẩu. Gia đình lo lắng chạy chữa khắp nơi nhưng không khỏi.

Ông đưa vợ đến nhiều bệnh viện khám, nhưng không thể biết nguyên nhân. Ông chạy chữa bằng thuốc bắc, bùa ngải ở khắp nơi nhưng bệnh tình bà không thuyên giảm, thậm chí còn nặng thêm. Lúc đó, có người mách bảo ông nên đến chùa này thắp nhang khấn nguyện. Thật kỳ lạ, chỉ hai ngày sau bà hết bệnh, nói chuyện bình thường. Nửa tháng sau, bà hạ sinh cháu gái khỏe mạnh, mẹ tròn con vuông. Ông bà sau này có thêm một người con trai khỏe mạnh, bà không tái phát căn bệnh kỳ lạ đó nữa. Mấy chục năm qua, tháng nào ông cũng vào chùa một lần để khấn nguyện, cũng là để đáp tạ ơn thiêng phù trợ.

Ông A Tiểu người thấp đậm, kiệm lời nhưng rất thật thà, chuyện linh thiêng ở chùa Ông, ông biết rất nhiều. Có nhiều người ông quen biết mắc bệnh nan y, bị bệnh viện trả về, nhưng vào chùa khấn nguyện một thời gian thì thuyên giảm một cách kỳ diệu. “Chú tin có thần linh phò trợ, chỉ cần con người sống tốt đẹp, đừng tham lam, sẽ được chứng giám. Đến chùa khấn nguyện cũng là đã cảm thụ được những điều tốt đẹp rồi” - ông nói.

Huyền bí và linh thiêng 

Theo sự giới thiệu của nhiều người, tôi được gặp bà Điệp, “chủ nhân” ngôi chùa đặc biệt này. Chùa được lập cách đây hàng trăm năm. Bà cùng nhiều anh em khác thuộc thế hệ thứ tư đang trông giữ chùa. Bà cho biết, đời ông sơ cách đây nhiều năm từ Trung Quốc sang buôn bán, lấy vợ người Việt. Sau đó, ông xây ngôi chùa này cho cộng đồng người Hoa, nên còn có tên gọi khác là Hội quán An Hòa. Dần dà, chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người Hoa, mà cả người Việt cũng đến rất đông.
chua ong ky la va linh thieng giua long tp.hcm hinh anh 2
Chùa Ông (chùa Minh Hương)
Hỏi về sự linh thiêng của chùa Ông, bà Điệp lắc đầu cười rất hiền. “Nói cầu gì được nấy thì có phần hơi quá, không có nơi nào kỳ lạ như vậy cả. Có thành quả hay không còn tùy thuộc vào đức độ của mỗi người nữa” - bà nói. Chùa thờ Quan Công, nên người đến phải biết trung, hiếu, tiết, nghĩa là lẽ sống ở đời. Chuyện nhiều người đến chùa cầu nguyện rồi trúng số bà không khẳng định nhưng cũng không phủ nhận. Bà kể: Năm nay 61 tuổi, bà theo mẹ về ở trong chùa này từ năm 1968. Hồi trước, ở tất cả các chùa Ông đều có tục xin xăm.

Trước đây, người đến chùa khấn viếng đều xin cho mình một quẻ xăm. Bà chứng kiến nhiều người bệnh nặng, chữa hoài không khỏi. Sau khi xin xăm, được quan Ông chỉ cho đúng hướng đi, tìm đúng người điều trị nên tai qua nạn khỏi. Thậm chí có người quyết định bán nhà, đến xin xăm, được ông cho quẻ không được bán. Người này quay lại kể với bà, nhờ giữ lại được căn nhà đó mà gia đình làm ăn phát đạt. Trong nhà không ai bệnh tật, cuộc sống hạnh phúc viên mãn.

Tôi tò mò hỏi việc chăm sóc hương đèn cho một vị thánh linh thiêng như vậy có khó không? Bà nói rằng, gia đình bà ở sau lưng chùa đã chăm sóc trông coi chùa truyền qua nhiều thế hệ. Mỗi ngày, họ thay nhau thắp nhang cầu nguyện đều đặn để quan Ông chứng giám lòng thành. “Công việc không quá vất vả, có điều phải lưu ý giữ gìn đồ đạc bên trong không để ai mạo phạm, vì phạm tới quan Ông là mắc tội rất lớn” - bà Điệp kể.

Năm trước, kẻ trộm đột nhập vào chùa từ trên mái, cạy lấy đi nhiều tượng, bình bằng sành sứ cổ quý hiếm. Trộm đột nhập nhiều lần, nhà chùa lại không có người sức vóc trông coi nên gần như chịu trận. Dù đã báo công an nhưng không tìm ra bọn trộm. Bà cùng anh em quỳ lạy, khấn vái mong quan Ông chứng giám xá tội. Kỳ lạ thay, ngay tối hôm sau, bọn trộm đột nhập nhưng không lấy được bất kỳ thứ gì. Không những thế, chúng còn để lại dấu vết rất rõ ràng, Công an lần theo điều tra, bắt được băng trộm khét tiếng ở Q.4, chuyên đột nhập đình chùa miếu mạo ăn trộm cổ vật. Đồ đạc được trả lại, nhà chùa đặt lại đúng vị trí. Từ lâu, không còn kẻ trộm nào dám bén mảng đến chùa Ông nữa.

Ngoài những câu chuyện linh thiêng, chùa Ông còn là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp. Từ cổng đến mái vòm đều có hoa văn dày đặt, những bức tượng tả cảnh sinh hoạt chốn thần tiên. Cuối hai mái vòm cong vút lại có tượng ông Tơ bà Nguyệt vươn tay. Bên dưới những tượng ấy, có bóng vài nam thanh nữ tú, hình như họ tìm đến cầu duyên. Chánh điện chùa là bức tượng Quan Thánh Đế mặt đỏ râu dài, áo bào uy nghi. Tả hữu quan Ông có tượng thờ 5 bà Ngũ Hành và ông Bổn (Địa).

Theo những người Hoa đến viếng, ngoài Quan Công, ông Bổn Địa là người coi sóc một vùng đất đai rộng lớn, ban phát lộc tài cho nhân gian. Tượng Bồ tát nằm ở bên trái khuôn viên chùa, cao vút và uy nghiêm trong nhang khói nghi ngút. Ấn tượng hơn là tượng ngựa Xích Thố đặt một bên đại sảnh. Ông Mã - theo cách gọi của nhà chùa - màu đen, có cơ bắp và mũi to, đầu được trang trí nhiều vật phẩm rất đẹp mắt. Người đến chùa, sau khi khấn lạy quan Ông và các chư vị thần linh, không quên thắp nhang trước tượng ông Mã, như nghi lễ bắt buộc trong tín ngưỡng chùa Ông.

Chùa Minh Hương nghe đâu do nhánh người Hoa Minh Hương nguyên quán ở 7 phủ thuộc 3 tỉnh Quảng Đông, Phước Kiến, Chiết Giang (Trung Quốc) sinh sống tại vùng Chợ Lớn, là những người Hoa lấy vợ người Việt, xây dựng từ năm 1902. Với lối kiến trúc chủ yếu bằng gốm và gỗ, trên đỉnh là mô hình phù điêu thu nhỏ bằng gốm sứ và phù điêu nghệ thuật cổng tam quan, những hoa văn khu chính điện, liễn xưa có giá trị. Bên trong còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ như: tượng thờ bằng gỗ lim có niên đại trên 300 năm, lư hương kiểu cổ, trống, sư tử đá, giá trưng kích thương, có 3 tủ thờ hiện vật trưng bày trang trí bằng đồng và các bộ bàn, ghế, giường, đồ gỗ xưa đời nhà Thanh, Trung Quốc.

Chùa có rất nhiều chỗ dát đồng, ánh lên một thứ ánh sáng vàng lung linh. Từ sảnh điện đến khuôn viên có treo hàng trăm cây nhang lớn hình chóp nón màu đỏ rất đẹp và thơm nức. Mỗi cây nhang phải mất một tuần mới cháy hết. Những cây nhang màu đỏ chụp xuống đầu người loang loáng ánh sáng vàng rực, cho người ta một cảm giác huyền diệu, tĩnh tâm đến lạ thường. Chùa Ông đã được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố nhiều năm trước. Nhưng có lẽ không gian huyền diệu và những câu chuyện linh thiêng mới chính là những điều làm nó trở nên nổi tiếng đến vậy.
Quan Vũ, (162 - 219) còn được gọi là Quan Công, tự là Vân Trường, Trường Sinh, là một vị tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Ông là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục Hán, với vị hoàng đế đầu tiên là Lưu Bị. Ông cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục Hán theo cách nói của tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu. Ông là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi. Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của ông đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh... với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy (581-618). Tục thờ Quan Công có nguồn gốc ở Trung Quốc, ông được dân gian phong thánh biểu trưng cho trung, hiếu, tiết, nghĩa. Hàng năm lễ cúng Quan Đế được tổ chức vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, là lễ cúng quan trọng nhất ở miếu. Ông cũng được thờ cúng ở nhiều nơi với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây thanh long yển nguyệt và hoặc cỡi ngựa xích thố, đặc biệt là ở Hong Kong. Tương truyền thanh long đao của ông nặng 40kg. 
Ở TP.HCM có rất nhiều đình miếu thờ Quan Thánh Đế do các bang hội người Hoa lập nên. Từ xưa, người ta quen gọi những nơi như vậy là chùa Ông. Tại Q.5, ngoài chùa Minh Hương, còn có Hội quán Nghĩa An, một chùa Ông nổi tiếng khác. Chính điện có gian thờ Quan Thánh Đế Quân trang trí bao lam lưỡng long tranh châu. Tượng Quan Đế cao 3m, mặc áo gấm xanh, ngồi trên ngai, đặt trong khám thờ chạm viền nhiều lớp tùng - hạc, mai - điểu, mẫu đơn - trĩ, Bát tiên giao chiến thủy quái... Đứng hầu hai bên trước bệ thờ là tượng Quan Bình và Châu Xương cao gần 2m, đặt trong tủ kính. Ngôi chùa này cũng là một địa chỉ du lịch độc đáo. Chùa tọa lạc tại số 676 Nguyễn Trãi có lịch sử hơn 200 năm do do người Triều Châu và người Hẹ ở Triều Châu sang Việt Nam sinh sống thành lập. 
Theo Kiên Giang (Dòng Đời) 

Chùa Ông linh thiêng như thế nào?

Chùa Ông linh thiêng như thế nào?

(PetroTimes) - Chùa Ông nổi tiếng thiêng ở tất cả các lĩnh vực, người đến đây có thể cầu an, cầu tài, cầu tình duyên, con cái… đều được.

“Chủ nhân” đang trong coi ngôi chùa Ông chính là bà Điệp, năm nay bà đã ngoài 60 tuổi. Thường bà rất hiếm khi tiếp chuyện với báo chí nhưng hôm đó chúng tôi đã may mắn.
chua ong linh thieng nhu the nao
Bà Điệp trò chuyện cùng phóng viên
Bà Điệp kể rằng chùa được ông sơ của bà xây dựng cách đây hơn 100 năm, bà là con cháu đời thứ 4 trong coi chùa. Còn cơ duyên bà vào chùa thì vào năm 1968, nhà bà không may bị cháy nên cả gia đình bà phải dọn vào chùa tá túc. Sau đó thì người thân bà lần lượt ra ngoài sống, riêng bà thì ở lại và gắn bó với ngôi chùa cho đến nay. “Tôi cảm thấy rất thân thuộc và có duyên với nơi đây nên tôi đã ở lại chùa dù hồi trẻ tôi vẫn tham gia công việc ngoài xã hội”, bà Điệp nói.
“Nghe nói chùa này linh thiêng bậc nhất Sài Gòn phải không cô?”, nghe chúng tôi hỏi câu này, bà Điệp cười hiền từ và… lắc đầu. Bà nói, “Linh thiêng hay không là tùy vào niềm tin của mỗi người. Người tin và thành tâm cầu nguyện thì họ cảm nhận được sự nhiệm màu còn người không tin, không có nhân duyên với nhà chùa thì tất nhiên không cảm nhận được điều đó”.
chua ong linh thieng nhu the nao
Vào ngày thường nhưng cũng có khá nhiều người đến chùa lễ bái
Bà không chắc về sự “cầu gì có nấy” nhưng bà khẳng định là có nhiều gia đình đã gắn bó với chùa Ông qua mấy thế hệ, từ đời ông bà sang đến đời cháu. Điều đó khẳng định lòng kính tin trong lòng nhiều tín chủ đến chùa là có thật và rất lớn.
Bà Điệp cũng kể cho chúng tôi nghe về một số trường hợp người đến chùa cúng bái, khấn nguyện và mọi việc trở thành hiện thực sau đó. Người thì khỏi bệnh nan y, người thì làm ăn phát đạt, người thì vượt qua được gian nan nguy khốn… Bà không thể khẳng định là do những người đó được đấng linh thiêng gia hộ hay không ! nhưng bà tin vào phước đức của mỗi người, nó sẽ giúp họ vượt qua những bất trắc trong cuộc sống.
Bà Điệp cho biết thêm rằng, người Phật tử đến chùa này khấn nguyện thì ngoài sự thành tâm cần phải sống noi theo phạm hạnh của đức Quan Công là trung, hiếu, tiết, nghĩa chứ không chỉ biết làm lợi cho riêng bản thân mình.
chua ong linh thieng nhu the nao
Chùa Ông nổi tiếng linh thiêng về cầu an, cầu tài
Nhưng theo bà Điệp thì khách chủ yếu đến đây là cầu an và cầu tài là phần nhiều. Trong đó, đặc biệt nhất là cầu tài. Bà chứng kiến rất nhiều người đến đây cầu làm ăn và sau đó quay lại cúng tạ lễ rất lớn. Chính bà Năm bán nhang đèn trước cổng chùa cũng đã khẳng định với chúng tôi về điều này. Bà cho biết, “chùa Ông cầu tài, cầu làm ăn là linh lắm đấy, cậu vào đó cầu thường xuyên đi”.
Người đến đây có thể cầu nguyện bất cứ điều gì tùy vào nguyện vọng của mỗi người. Đây là một đặc điểm khác biệt giữa chùa Ông và các ngôi chùa linh thiêng khác trong thành phố. Nhiều chùa có tiếng linh thiêng ở Sài Gòn chỉ chuyên về một lĩnh vực cầu khấn nào đó, như chùa cầu con (Phước Hải tự - chùa Ngọc Hoàng), chùa cầu duyên, chùa cầu tài... Riêng chùa Ông này nổi tiếng thiêng ở tất cả các lĩnh vực. Có người thì cầu bình an, người cầu hết bệnh, người cầu tài, cầu chuyện làm ăn kinh doanh, cầu tình duyên, con cái… thậm chí có các em học sinh, sinh viên đến cầu chuyện thi cử.
chua ong linh thieng nhu the nao
Một góc chùa Ông
Bà kể lại chúng tôi nghe một trong số nhiều câu chuyện mà bà từng chứng kiến sau những năm tháng bán hương trước cổng chùa. Đó là chuyện về gia đình ông A Tiểu làm nghề buôn bán ở chợ Bình Tây. Trong lúc vợ ông mang thai con gái đầu lòng thì bỗng nhiên bị á khẩu. Dù đã chạy chữa khắp nơi nhưng vẫn không khỏi, cũng không rõ nguyên nhân mà bệnh tình ngày càng nặng thêm. Có người chỉ, ông đưa bà đến chùa này thắp nhang khấn nguyện. Thật mầu nhiệm là chỉ hai ngày sau bà hết bệnh, nói chuyện lại được như bình thường. Sau đó, bà hạ sinh một bé gái khỏe mạnh, kháu khỉnh.
Thế là mấy mươi năm qua, tháng nào ông A Tiểu cũng vào chùa để dâng hương lên đức Quan Ông vừa cầu nguyện bình an vừa để đáp tạ ơn xưa.
chua ong linh thieng nhu the nao
Có một chuyện mà bà Điệp trực tiếp chứng kiến đó là vài năm trước, nhà chùa bị kẻ trộm trèo lên mái cạy lấy đi một số tượng, bình bằng sành sứ quý hiếm. Dù bà đã báo công an nhưng không tìm ra bọn trộm. Bà Điệp không còn cách nào khác ngoài cách cùng anh em bà cầu nguyện quan Ông cho tìm lại được những đồ đã mất.
Bất ngờ là đến 6 tháng sau vụ trộm cắp, công an gọi điện báo là đã bắt được một nhóm chuyên ăn cắp đồ cổ, mấy tên trộm khai nhận là đã lấy cắp của chùa. Thế là đồ đạc được trở về chùa và được đưa lại đúng vị trí cũ. “Nếu đức Quan ông không linh thiêng thì làm sao đồ vật được trả về sau tận 6 tháng bị trộm?”, bà Điệp nói.
Tiếng lành đồn xa, có lẽ từ những câu chuyện kể trên mà chùa Ông dần dần để trở thành là địa chỉ tâm linh nổi tiếng linh thiêng như bây giờ!