Thứ Năm, 9 tháng 1, 2020

Người nam sinh Sài Gòn tóc bạc kể mãi chuyện xuống đường...

TTO - Đúng dịp kỷ niệm Ngày truyền thống sinh viên học sinh, một cuộc giao lưu xúc động vừa diễn ra tại Đường sách TP.HCM sáng 9-1, với nhân vật là ông Lê Hồng Tư - chàng nam sinh Sài Gòn bước ra từ tiểu thuyết Áo Trắng của Nguyễn Văn Bổng.

Người nam sinh Sài Gòn tóc bạc kể mãi chuyện xuống đường... - Ảnh 1.
Ông Lê Hồng Tư (giữa) đang kể lại câu chuyện của một thời sinh viên và lứa đôi trong khói lửa chiến tranh - Ảnh: L.ĐIỀN
Tiểu thuyết Áo Trắng được xây dựng từ hình mẫu hai nhân vật chính là Phượng và Hoàng - một bộ phận của phong trào sinh viên học sinh Sài Gòn từ những năm 1960. Nhân duyên để quyển tiểu thuyết này ra đời bắt đầu từ năm 1969, khi cô Nguyễn Thị Châu từ Sài Gòn ra Hà Nội, được gặp Bác Hồ và dự Liên hoan Thanh niên thế giới. 
Câu chuyện của Châu được nhà văn Nguyễn Văn Bổng chú ý, hai bên làm việc với nhau từ năm 1969 đến 1970, và Nguyễn Văn Bổng chấp bút viết tiều thuyết Áo Trắng trong hai năm 1970 - 1971. Theo đó, nhân vật Phượng chính là Nguyễn Thị Châu và Hoàng là Lê Hồng Tư.
Áo Trắng xuất bản lần đầu tại miền bắc năm 1972, từng thu hút bạn đọc bấy giờ bởi không gian truyện miêu tả chi tiết về cuộc sống của Sài Gòn, về những câu chuyện xúc động của giới học sinh sinh viên, đặc biệt là những tình tiết tổ chức các tuyến hoạt động nội thành với những tấm gương sáng bằng xương bằng thịt phải chịu bao đau thương tù đày giam cầm tra tấn và có trường hợp vượt thoát được, trở thành điển hình như Nguyễn Thị Châu.
Không chỉ có đấu tranh và chịu đựng gian khổ, câu chuyện của Hoàng và Phượng trong Áo Trắng còn lấp lánh một tình yêu đầy xúc động, phải nói là trong thời chiến, tình yêu trai gái cũng trắc trở theo từng bước chuyển động của "phong trào"...
Những câu chuyện từ "nhân vật của tiểu thuyết"
Buổi giao lưu đúng ngày truyền thống sinh viên học sinh đồng thời ra mắt bản in mới quyển Áo Trắng chính là ý muốn của cả hai nhân vật: chú Lê Hồng Tư và cô Nguyễn Thị Châu. Và dù giờ cuối cô Nguyễn Thị Châu vắng mặt do lý do bất khả kháng, những câu chuyện từ ông Lê Hồng Tư vẫn gây chú ý với rất đông bạn trẻ đến Đường sách sáng nay.
Điều gì khiến cho một cụ già tuổi 86 tóc bạc da mồi, vẫn nhớ như in những sự kiện lịch sử của đất nước, của miền Nam, của đồng đội trong giới sinh viên Sài Gòn? Phải chăng đó chính là một phần cuộc đời ông, một phần tuổi trẻ ông và chính là lý tưởng cả đời ông theo đuổi.
Ông Lê Hồng Tư nhắc lại bối cảnh đất nước chia đôi sau năm 1954, và hoàn cảnh đô thị Sài Gòn lúc bấy giờ đã có những chuyển biến như thế nào khiến cho phong trào thanh niên sinh viên học sinh ra đời.
Có những chuyện nếu không được một người trong cuộc nắm rõ những dữ liệu thời cuộc thuật lại như vậy, các thế hệ về sau rất khó hình dung tại sao lại có chuyện này chuyện kia, tại sao người miền Nam lại tin vào Mặt trân dân tộc Giải phóng chẳng hạn.
Ông Tư kể vào khoảng sau năm 1961, ông lên Tây Ninh dự một lớp học của phía cách mạng, lúc bấy giờ được nghe ông Võ Văn Kiệt đưa ra nhận định là sẽ có đảo chánh ở Sài Gòn, và quả nhiên đến 1963 có đảo chánh thiệt. Chính điều này làm người dân tin là những người cách mạng ở Mặt trận sáng suốt và nói đúng.
Có thể nói, những câu chuyện từ "nhân vật của tiểu thuyết" kể ra chính là một bổ khuyết thú vị cho quyển tiểu thuyết được nhà văn Nguyễn Văn Bổng dày công xây dựng. 
Đọc truyện, biết được những chuyển động ngầm trong giới sinh viên học sinh, biết được các mưu mẹo đấu tranh của những người vẫn trong độ tuổi học trò mà sớm đứng ra lo việc nước... thì khi nghe thuật chuyện từ hình mẫu nhân vật ngoài đời thực, người ta sẽ biết được phía bên trong của những chiến công, biết được ý tưởng táo bạo đánh Mỹ ngày trên đường phố Sài Gòn khởi phát từ sinh viên học sinh như thế nào...
Và một tình yêu đi qua bao trắc trở
Đặc biệt là câu chuyện tình xúc động của chú Tư và cô Châu mà tiểu thuyết Áo Trắng không thể nào chuyển tải hết được. 
Đó là những tình huống chung nhau lý tưởng, chung đường hoạt động hình thành tình cảm lứa đôi. Đặc biệt là câu chuyện chú Tư kể lần tỏ tình thứ nhất bị cô Châu từ chối do còn việc cách mạng và việc nhà nặng quá, chú bảo "tôi nghe đau quặn trong lòng". 
Vậy mà chú vẫn chân thành, kiên trì theo dõi tin tức của người mình yêu qua bao nhiêu trắc trở nhiều lúc tưởng một đi không trở lại. Có lần bị đứt đường dây liên lạc, tổ chức yêu cầu chính chú Tư đi tìm và móc nối lại cô Châu. 
"Việc chung đã xong, đến việc riêng, tôi lấy can đảm bày tỏ với cô một lần nữa, cô vẫn chưa chịu. Tôi mới nói rằng: ‘Chừng nào tôi còn hơi thở trên trái đất này thì tôi vẫn muốn thành hôn với Châu’. Câu này trong tiểu thuyết không có đâu". Tiếng vỗ tay vang lên khi mọi người nghe những lời tâm sự ấy.
Người nam sinh Sài Gòn tóc bạc kể mãi chuyện xuống đường... - Ảnh 2.
Ông Lê Hồng Tư (giữa) bồi hồi kể lại câu chuyện tình của mình - Ảnh: L.ĐIỀN
Nhưng rồi câu chuyện ngoài đời cũng có hậu: chú Tư hoạt động nội thành chỉ 6 năm nhưng  bị đi tù Côn Đảo đến 13 năm. Sau ngày 30-4-1975, chú mới được về với tự do. Lúc này, cô Châu đã báo cáo tổ chức - chú Tư chính là vị hôn phu của cô. Và tháng 8-1975, hai người làm đám cưới. "Tụi tôi chỉ mời 250 người nhưng bạn bè người quen đến hơn 600 người, cũng may là tiệc trà nên tất cả đều vui mà không tốn kém". Khán giả ngồi nghe lại ồ lên lần nữa.
Nhưng điểm có hậu đáng kể trong cuộc đời của đôi "uyên ương cách mạng" này có lẽ chính là quan niệm sống, được chú Tư chia sẻ: "Tôi có một người con trai, vẫn khuyên nó nên làm việc và tiêu xài trong khả năng mình làm ra. Phần tôi lâu nay làm hết các việc nhà từ đi chợ nấu ăn giặt quần áo, do vợ tôi yếu chân đi lại khó khăn... Chỉ có dọn vệ sinh là thuê người làm theo giờ. Nói chung là cuộc sống lạc quan hạnh phúc, làm được gì để  giúp ai thì làm, năm nay tôi đã 86 tuổi và hi vọng còn sống 5 năm nữa". Mọi người lại xuýt xoa.

ao_trang
Có một câu chuyện xúc động về cô Nguyễn Thị Châu lúc bị giam trong xà lim P42 năm 1961, cô đã dùng chiếc kẹp tóc khắc lên tường bài thơ: "Áo trắng em chưa vướng bụi đời/ Chưa từng mơ ước chuyện xa xôi/ Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót/ Áo trắng này nguyện trắng mãi thôi".
Tiểu thuyết Áo Trắng khi xuất bản đã được bạn đọc trong và ngoài nước quan tâm. Đến năm 1987, giáo sư Bae Yang Soo người Hàn Quốc đã dịch tiểu thuyết này ra tiếng Hàn, và được xem là sách gối đầu giường của sinh viên Hàn Quốc trong nhiều thế hệ. Trong 20 năm (1987 - 2007), tiểu thuyết Áo Trắng đã được tái bản 35 lần tại Hàn Quốc.

Thứ Năm, 26 tháng 12, 2019

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả ca khúc ‘Dư Âm’ nổi tiếng, qua đời

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý. (Hình: Báo Tiền Phong)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả của ca khúc nổi tiếng “Dư Âm” cách đây gần 70 năm, vừa qua đời tại nhà riêng ở Sài Gòn vào chiều 26 Tháng Mười Hai, 2019.
Báo Tuổi Trẻ dẫn nguồn tin từ gia đình nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cho biết, ông qua đời tại nhà riêng ở đường Trần Khắc Chân, quận 1, sau thời gian chống chọi với rất nhiều căn bệnh của tuổi già.
Tin cho biết, “10 giờ sáng ngày 27 Tháng Mười Hai, linh cữu ông sẽ được di quan ra nhà tang lễ thành phố. Lễ an táng ông vào sáng 29 Tháng Mười Hai tại nghĩa trang hoa viên Bình Dương, nơi có nhiều nghệ sĩ đang yên nghỉ như nhạc sĩ Phạm Duy, nhà văn Sơn Nam, soạn giả Viễn Châu, Giáo Sư Trần Văn Khê, nhà thơ Kiên Giang…”
Tiểu sử của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được báo Tuổi Trẻ cho biết, “Ông sinh ngày 5 Tháng Ba, 1925 tại Vinh, Nghệ
An, quê gốc ở Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cha của ông là “trùm một phường bát âm của miền quê Vĩnh Phú thạo cả hát văn, hát chèo và hát ả đào,” sau vào làm thợ máy nhà máy xe lửa Trường Thi ở Nghệ An…”
“… Từ năm 1944, ông đi hát trong phòng trà ở Vinh kiếm sống. Năm 1945, Nguyễn Văn Tý tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh Niên Cứu Quốc Nghệ An.”
“Theo lời của Nguyễn Văn Tý, ông bắt đầu sáng tác vào năm 1947 khi là trưởng Phòng thông tin tuyên truyền huyện Thanh Chương, nhưng ông coi tác phẩm đầu tay của mình là bài ‘Ai Xây Chiến Lũy’ được viết 1949.”
“… Bản Dư Âm nổi tiếng được ông sáng tác khoảng 1950 sau một lần về chơi nhà bạn ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Dư Âm viết về cô em gái của người bạn đó.”
Đến 1951, Nguyễn Văn Tý ra khỏi quân đội và chuyển về công tác ở Chi Hội Văn Nghệ Liên Khu IV. Năm 1952, ông quen biết với bà Nguyễn Thị Bạch Lệ, em gái nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, và sau đó hai người thành hôn. Thời gian này ông sáng tác những bài như: Vượt Trùng Dương (1952), Tiếng Hát Dôi-a (1953) và ca khúc nổi tiếng Mẹ Yêu Con (1956).
Cuối năm 1957, Nguyễn Văn Tý cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập Hội Nhạc Sĩ (miền Bắc) Việt Nam.”
Vẫn theo báo Tuổi Trẻ, “ông đã để lại nhiều tác phẩm âm nhạc nổi tiếng như: Dư Âm, Dáng Đứng Bến Tre, Mẹ Yêu Con, Tấm Áo Chiến Sĩ Mẹ Vá Năm Xưa, Một Khúc Tâm Tình của người Hà Tĩnh, Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ…”
Những năm tháng cuối đời, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sống cô đơn và khốn khó tại Sài Gòn. Theo lời ca sĩ Ánh Tuyết, ông “sống bằng lương hưu, phụ cấp hoạt động trước cách mạng, rồi tiền tác quyền chừng hơn 1 triệu/tháng, tất cả là hơn 4 triệu đồng mỗi tháng không đủ để ông sinh hoạt tằn tiện thuốc men, chưa kể trả lương đỡ đần việc nhà cho cô cháu gái của người vợ đã khuất.”
Vẫn theo ca sĩ Ánh Tuyết, hai cô con gái của nhạc sĩ “thì một người sinh sống ở Hà Nội, cô út ở Sài Gòn thì cũng gần đây nhưng chính nhạc sĩ không muốn về sống cùng vì biết hoàn cảnh của các con cũng khó khăn.” (KN)

Chủ Nhật, 22 tháng 12, 2019

Một thời cà phê Sài Gòn  

Sunday, December 22, 2019


BM

Có bao giờ bạn tự hỏi vì sao người ta phải ra tiệm để uống cà phê? Vì pha cà phê đâu có khó, và bạn hoàn toàn có thể tự pha một tách cà phê đậm đà ở nhà để uống. Đó là bởi vì cà phê ngon chỉ mới được một nửa, và chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970.

BM

Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm.

Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương.

Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

BM

Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che giấu.

BM

Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức) – đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly.

Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài. Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị.

Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?

BM

 Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

BM

Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường.

Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay dắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”.

Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ.

BM

Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi – nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.

Những năm cuối thập niên 1960, Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La.

Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất… Đa La.

Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

BM

Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si.

Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.

Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa (La Pagode), anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học (nay là Nơ Trang Long) chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn 
Trường Tộ.

BM
Cafe La Pagode

Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng (này là Ngô Gia  Tự) hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur – Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý.

Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của sinh viên, cả nghèo lẫn giàu. Cuộc sống sinh viên cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng.

BM

Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.



Lương Thái Sỹ – An Dân


BM

https://baomai.blogspot.com/2019/12/mot-thoi-ca-phe-sai-gon.html

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2019

CĐV Đông Nam Á phục sát đất U22 Việt Nam, khen HLV Park Hang-seo: "Ngầu quá cỡ!"

Nhật Hạ 
CĐV Đông Nam Á phục sát đất U22 Việt Nam, khen HLV Park Hang-seo: "Ngầu quá cỡ!"

Những cổ động viên khu vực đã dành lời khen ngợi hết lời đối với ĐT U22 Việt Nam và chính thầy Park Hang-seo.

Như vậy là ĐT U22 Việt Nam đã bước lên bục cao nhất của môn bóng đá nam tại SEA Games 30. Chúng ta vượt qua Indonesia với kết quả hết sức thuyết phục 3-0.
Sau trận đấu, trên nhiều group bóng đá Đông Nam Á, nhiều dân mạng đã dành lời khen ngợi cho bóng đá Việt Nam.
"Chúc mừng Việt Nam, các bạn là đội bóng tốt nhất. Trận chung kết chẳng có gì tiếc nuối hay nói thêm điều gì cả. U22 Việt Nam xuất sắc", cổ động viên Indonesia bình luận.

"HLV Park quả cảm thật, cái cách ông ấy bảo vệ cầu thủ đến mức bị thẻ đỏ mà thấy ngưỡng mộ. HLV ‘siêu ngầu’ như vậy ai mà không thích cơ chứ. Tôi thành fan của ông ấy mất rồi", một cổ động viên Philippines viết.
CĐV Đông Nam Á phục sát đất U22 Việt Nam, khen HLV Park Hang-seo: Ngầu quá cỡ! - Ảnh 1.
"Xin chúc mừng Việt Nam, cái cách các bạn "xơi tái" trận chung kết thật khiến người ta ngưỡng mộ. Việt Nam giờ đúng là Vua của khu vực Đông Nam Á", một dân mạng Thái Lan viết.
"HLV thực sự nóng tính nhưng sẽ khiến các cầu thủ cống hiến hết mình. Việt Nam thật may mắn, từ cầu thủ đến HLV đều vô cùng xuất sắc cả", một cổ động viên Myanmar viết.
"Trận chung kết đỉnh cao, bóng đá Việt Nam giờ chẳng thể nào mà lường được độ nguy hiểm. Càng ngày họ chơi càng hay, có càng sự ngưỡng mộ luôn rồi", một dân mạng Lào viết.
CĐV Đông Nam Á phục sát đất U22 Việt Nam, khen HLV Park Hang-seo: Ngầu quá cỡ! - Ảnh 2.
"Trận đấu hôm nay thật sự được định đoạt ngay từ hiệp 1 luôn đó. Indonesia rất cố gắng nhưng chẳng thể làm khác được. Thời điểm này đội nào gặp Việt Nam cũng đều thua hết thôi. Họ giỏi xuất sắc", một cổ động viên khác viết.
"Việt Nam được huy chương vàng rồi à, tôi biết ngay trừ Thái Lan ra thì chẳng đội nào làm khó được Việt Nam đâu. Chúc mừng Việt Nam, các bạn bây giờ quá nguy hiểm", dân mạng Thái Lan viết.