Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương: từ “Ly rượu mừng” đến “Nửa hồn thương đau”

 0
Cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương – và cũng là ca sĩ Hoài Bắc trong ban hợp ca Thăng Long – có thể được tóm gọn trong hai ca khúc để đời: “Ly rượu mừng” và “Nửa hồn thương đau”. Trong số hơn 50 bài hát ông sáng tác, xin chọn hai bài điển hình này vì nhiều lý do.
Phạm Đình Chương viết nhạc cho đời theo hai tâm trạng của mình: từ hoan lạc đến buồn tủi, hay nói rộng ra là từ lạc quan đến bi quan. Trong suốt cuộc đời “chìm nổi” của mình, người nhạc sĩ luôn sống trong 2 thái cực và đó cũng là lý do người hát cũng như người nghe nhận ra ngay cuộc đời của ông: vui ít, buồn nhiều. Thế cho nên, “Ly rượu mừng” và “Nửa hồn thương đau” được chọn cho hai tâm trạng đó.
Phạm Đình Chương xuất thân từ một gia đình văn nghệ nổi tiếng tại Hà Nội. Cha ông, Phạm Đình Phụng, lấy người vợ đầu và có hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung trong ban hợp ca Thăng Long.
Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh năm 1929 tại Sơn Tây, trong một gia đình mang huyết thống nghệ sĩ và có cuộc đời gắn bó cùng âm nhạc. Phạm Đình Chương đã đến với âm nhạc từ những nỗ lực tự học hỏi tìm hiểu bằng chính tâm hồn nhạy cảm của mình.
Hầu như những sáng tác của ông trong giai đoạn đầu đều chất chứa những đặc tính: phiêu lãng nhưng chân thật, lãng mạn nhưng hiện thực và nhất là nét đằm thắm, trữ tình đầy tình yêu quê hương, con người và đất nước. Ông đã từng tham gia ban văn nghệ quân đội Liên Khu 4 trong những ngày đầu tiên kháng chiến chống Pháp theo tiếng gọi của non sông.
Ban Thăng Long: Hoài Trung, Thái Thanh, Hoài Bắc
Sau một thời gian, gia đình Phạm Đình Chương quay trở về Hà Nội. Tại đây, năm 1949, gia đình họ Phạm thành lập Ban hợp ca Thăng Long với ba giọng ca chính là Hoài Bắc, Hoài Trung và Thái Thanh.
Khi di cư vào Nam, ban Thăng Long được tăng cường thêm các anh em, dâu rể một nhà và được xem là ban hợp ca nổi tiếng nhất tại Sài Gòn, gắn liền với phòng trà “Đêm Màu Hồng”, trình bày những nhạc phẩm bất hủ của các nhạc sĩ đã nổi danh từ thời tiền chiến, nổi bật là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Phạm Duy.
Ban Thăng Long phiên bản đầy đủ: Phạm Duy, Hoài Bắc, Hoài Trung, Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh
Một trong những sáng tác của Phạm Đình Chương đã đi sâu vào lòng người miền Nam mỗi độ xuân về là ca khúc “Ly rượu mừng”. Tuy nhiên, kể từ 1975 bài hát này không nằm trong danh mục các nhạc phẩm cũ được trình diễn trước công chúng.
Phải chờ sau 41 năm sau bản nhạc tưởng chừng như “vô tội vạ” mới được “cởi trói”. Báo Thanh Niên giải thích lý do: mãi đến năm 2016 “Ly rượu mừng” mới được cởi trói là vì người lính được ca tụng trong đó là “người lính chống Pháp” trong cuộc kháng chiến. Thế cho nên, đêm 31/12/2016 bài hát được chính thức xuất hiện trước công chúng trong Chương trình “Giai điệu Tự hào” trên Truyền hình Quốc gia.


Bản nhạc được sáng tác với âm điệu tươi vui như một lời chúc Tết tốt đẹp theo truyền thống dân tộc. Lời chúc đó gửi tới mọi thành phần xã hội: từ “anh nông phu”, “người công nhân”, “đôi uyên ương”, “người nghệ sĩ” cho đến các thương gia và binh sĩ. Ngay từ khi ra đời, ca khúc đã được lòng khán thính giả và là tác phẩm được nghe và hát nhiều nhất trong mỗi dịp xuân về tại Miền Nam.
Theo Wikipedia, “Ly Rượu Mừng” được Phạm Đình Chương sáng tác vào năm 1952 cùng với hai bản “Đợi chờ” và “Hò leo núi”. Cũng theo nguồn này, nhạc sĩ “dinh tê” về Hà Nội năm 1951 và thành lập ban hợp ca Thăng Long trong đó có ca sĩ Hoài Bắc. Người ta không khỏi thắc mắc tại sao nhạc sĩ Phạm Đình Chương tại sao lại lấy tên Hoài Bắc trong khi vẫn ở miền Bắc?
Tại miền Nam, tờ nhạc “Ly Rượu Mừng” được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần thứ nhất năm 1956 và ghi rõ “Ấn quyền 1956 của Tinh Hoa”. Có lẽ đây là bằng chứng chính xác nhất vì nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã từ trần ngày 22/8/1991 tại California. Quả là “Ly rượu mừng” và người nhạc sĩ sáng tác ra nó vẫn còn nhiều bí ẩn.
Có thể nói, cuộc đời của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đượm nhiều uẩn khúc và nhiều bi kịch. Năm 1953 ông lập gia đình với ca sĩ và sau này là diễn viên nổi tiếng, Khánh Ngọc. Những người thuộc lứa đầu bạc chắc không thể nào quên ca sĩ Khánh Ngọc của thập niên 50 trong bản nhạc Pháp “Cerisier Roses et Pommiers Blances” với lời Việt “Vườn xuân ong bướm, ngất ngây ngất ngây lòng ta…” .
Vào năm 1955, một đoàn làm phim Mỹ-Phi đến Sài Gòn để tìm diễn viên cho bộ phim “Ánh sáng miền Nam” và Khánh Ngọc đã được chọn đóng vai chính. Cuộc đời tình ái của đôi trai tài-gái sắc Phạm Đình Chương-Khánh Ngọc tràn trề hạnh phúc… cho đến khi xảy ra chuyện động trời trong đại gia đình nhạc sĩ.
Bi kịch có liên quan đến nhiều thành viên: Nhạc sĩ Phạm Duy là chồng của Thái Hằng, Thái Hằng là chị của Phạm đình Chương và cũng là chị của Thái Thanh. Khánh Ngọc là vợ của Phạm Đình Chương, Phạm Duy trong vai trò anh rể lại “tằng tịu” với Khánh Ngọc, em dâu của mình.
Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu, ông không thể nào tin vào sự ngoại ti`nh đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương, tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn.
Cho đến một buổi tối “định mệnh”, Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân “bắt tại trận” cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè – Gia Định. Sáng hôm sau, một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng được tung ra trên tờ nhật báo “Sài Gòn Mới” của bà Bút Trà. Vụ “ăn chè Nhà Bè” khiến cả Sài Gòn đều biết.
Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra, phóng sự nhưng “hoạ vô đơn chí”, trong cuộc đời này, cái gì càng giấu giếm bao nhiêu, càng được “bùng nổ” và thêu dệt bấy nhiêu.
Nỗi đau dày xé tâm can và sự tan nát của một đại gia đình nghệ sĩ đã “đánh gục’ nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện chuyện vượt ra ngoài luân lý. Đã có lúc Phạm Đình Chương nghĩ quẫn, nhưng tiếng khóc của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Ông gạt nước mắt đau thương, nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 5 tuổi.
Biến cố đó là một động lực cho sáng tác “Nửa hồn thương đau” với những ca từ như nức nở:
“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.
Cho tôi về đường cũ nên thơ, cho tôi gặp người xưa ước mơ.
Hay chỉ là giấc mơ thôi.
Nghe tình đang chết trong tôi.
Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời…
“Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau
Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau
Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào?
Anh ở đâu?
Em ở đâu?
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.
Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.
Và tiếng hát và nước mắt.
Đôi khi anh muốn tin.
Đôi khi anh muốn tin.
Ôi những người, ôi những người.
Khóc lẻ loi một mình…”

“Nửa hồn thương đau” chính thức ra đời năm 1970 để chấm dứt một thời kỳ sáng tác u uẩn và quạnh quẽ của một người chồng vẫn một lòng thương yêu người vợ đã phản bội mình. Bản nhạc như rút ruột lòng người và bản nhạc cũng đánh dấu một giai đoạn sáng tác của người nhạc sĩ tài hoa nhưng bạc phận.
Khi ra nước ngoài, Phạm Đình Chương vẫn sáng tác một số ca khúc mang tính cách hoài niệm: “Bên trời phiêu lãng”, “Cho một thành phố mất tên”, “Đêm, nhớ trăng Sài Gòn”… Và trong khi “Ta ở trời tây” Phạm Đình Chương có lời nhắn nhủ: “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”.

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

Hiện tượng ca sĩ Thúy Hằng và Cô Lái Đò Bến Hạ

 0
Vào thập niên 1980-1990, có một nỗi băn khoăn, lo ngại trong làng nhạc Việt ở hải ngoại là sự thiếu vắng các gương mặt trẻ, là những tiếng hát và tài năng cần thiết cho sự sinh động, mới mẻ của nhạc hải ngoại ở xứ người.
Vào lúc đó thế hệ thứ 2, thứ 3 của người Việt ở hải ngoại hầu như không biết gì về quê hương nguồn gốc, không rành tiếng Việt, do hoàn cảnh thực tế, môi trường sống khó khăn làm cho cha mẹ Việt không có nhiều thời gian cho việc truyền lại những kiến thức về văn hóa nguồn gốc cho con cái. Khi mà tiếng Việt của thế hệ trẻ hải ngoại còn nghèo nàn, không thông thạo thì khó lòng mà tìm ra được những giọng hát trẻ của cộng đồng Việt hải ngoại, vì họ không thể diễn tả được những tình cảm, tâm tư sâu sắc, thâm trầm trong các tác phẩm âm nhạc luôn đòi hỏi sự diễn đạt cảm xúc mạnh mẽ như là dòng nhạc miền Nam Việt Nam.
Chính vì thế mà các nhà sản xuất băng nhạc ở hải ngoại lúc đó đã phải trông chờ vào những tài năng trẻ từ ở trong nước sang định cư ở hải ngoại để thỏa mãn nhu cầu cần có những khuôn mặt mới, luồng sinh khí tươi trẻ cho sinh hoạt trình diễn âm nhạc ở quê người. Làn sóng các ca sĩ nổi tiếng từ trong nước sang hải ngoại lập nghiệp ở thập niên 1980-1990 điển hình nhất là Thế Sơn, Nguyễn Hưng, sau này là Như Quỳnh, Mạnh Đình, Thủy Tiên, Ngọc Ánh… là những ca sĩ “trẻ” đã nổi tiếng trước từ trong nước.
Tuy nhiên nói vậy không có nghĩa là không có sự xuất hiện nào của thế hệ ca sĩ gốc Việt được sinh ra tại hải ngoại, hấp thụ nền văn hóa xứ người nhưng vẫn mang trong mình dòng máu và nền văn hóa Việt, đó là ca sĩ Thúy Hằng, một hiện tượng ở hải ngoại vào giữa thập niên 1990, nổi tiếng khi mới 14 tuổi.
Thúy Hằng sinh năm 1981, có cha là người Việt tên là Vũ Đức Tuấn, mẹ là người Mỹ. Năm 1987, cha mẹ cô ly dị, để lại một bầy 6 người con nhỏ ở chung với cha bà bà nội. Theo bà Vũ Thị Giữ, là bà nội của Thúy Hằng, kể rằng sau năm 75, khi bà mang các con sang Mỹ, bà không bao giờ ngờ rằng chỉ ít năm sau bà có một người con dâu ngoại quốc và có đứa cháu nội đầu tiên là bé gái lai Mỹ, trông vẻ bề ngoài thì Mỹ nhiều hơn Việt, từ màu da đến ngôn ngữ, đó chính là ca sĩ Thúy Hằng.
Từ lúc được sinh ra cho đến khi lên 6, Thúy Hằng gần gũi với mẹ và sống hoàn toàn trong môi trường Mỹ. Sau này khi cô được ở với bà nội, bà Vũ Thị Giữ gặp rất nhiều khó khăn vì ngôn ngữ bất đồng, nhưng vì thương cháu nên bà đã vượt qua. Bà kể lại:
“Tôi đâu ngờ cuối cùng Chúa đã cho lại tôi đứa cháu không những đúng là cháu tôi, nói tiếng Việt, ngoan ngoãn, hiếu thảo, mà cháu còn làm cho gia đình chúng tôi hãnh diện. Tôi nhớ lần đầu tiên khi cháu tham dự cuộc thi hát do Cộng đồng Công Giáo New Marrero tổ chức ở New Orleans nhân hội chợ Tết năm 1993, khi nghe cháu hát bài Lòng Mẹ, chúng tôi là người khóc trước nhất. Phần tôi thương cháu, phần tôi trộm nghĩ nếu mẹ cháu ở đâu đó nghe được hoặc hiểu được con bé nó nói cái gì, hát cái gì, thì không biết cô ta sẽ nghĩ sao về sự bỏ bầy con đành đoạn mà đi như vậy”.
Có thể là Thúy Hằng cảm nhận được tấm lòng tận tụy và yêu thương của bà nội, nên chỉ một thời gian ngắn, đang từ một đứa trẻ không biết nói tiếng Việt, Thúy Hằng đã không chỉ thủ thỉ với bà mà còn có thể diễn tả được những tình cảm sâu sắc trong các bài hát tiếng Việt.
Cụ bà Vũ Thị Giữ kể thêm, chính bà là người cặm cụi tự tay cắt, may, khâu từng mũi chỉ của chiếc áo dài màu tím để cho cháu bà xuất hiện trong video Hollywood Night số 15 với bài Mười Năm Áo Tím.
“Khi cháu nó mặc thử chiếc áo dài màu tím này trước mặt tôi, tôi thấy nó rớm nước mắt, tôi phải quay đi chỗ khác” – Bà xúc động nhớ lại.
Thúy Hằng có chất giọng thiên phú mà theo những người trong nghề cho biết là chỉ những ai mang hai dòng máu mới sở hữu được. Đó là sự khỏe mạnh, mức vạm vỡ trong tiếng hát để thích hợp với những nhạc phẩm ngoại quốc, và sự mềm mại, ngọt ngào để thích hợp với những nhạc phẩm tình cảm, dịu dàng của Việt Nam.
Năm 1995, khi mới 14 tuổi, Thúy Hằng được trung tâm Mây Productions mời thu hình cho cuốn Video Hollywood Night số 14, ngay lập tức cô gây ấn tượng mạnh mẽ với công chúng. Rất nhiều thư yêu cầu đã được gửi đến cho Mây Productions nên Thúy Hằng lại xuất hiện trong Hollywood Night số 15 với nhạc phẩm Mười Năm Áo Tím, cũng là tên gọi chủ đề cho cuốn Video số 15 của Hollywood Night.

Thúy Hằng thực hiện được 7 CD ở trung tâm Mây Productions, trong đó cô được biết đến nhiều nhất qua bài hát Cô Lái Đò Bến Hạ với chất giọng trong trẻo đầy cảm xúc. Tuy nhiên, đáng tiếc là chỉ một thời gian sau, Thúy Hằng dừng đi hát khi ở tuổi còn rất trẻ để tiếp tục con đường học hành, sau đó trở thành một nha sĩ và lập gia đình.
Vào khoảng năm 2008, có một đoạn video trên youtube quay lại hình ảnh một người tên Thúy Hằng bị bạo bệnh qua đời, sẵn dịp lâu rồi không thấy Thúy Hằng xuất hiện ca hát, người ta đã đồn ầm ĩ chuyện ca sĩ Thúy Hằng qua đời. Thậm chí trên một tờ báo khá nổi tiếng ở trong nước còn loan tin là “ca sĩ hải ngoại Thúy Hằng ra đi sau cơn bạo bệnh”. Tờ báo này còn khẳng định là “tang lê~ Thúy Hằng được cử hành theo nghi lễ Phật giáo”. Sau đó, ông Trần Thăng, cựu giám đốc trung tâm Mây Productions đã lên tiếng đính chính về “tin vịt” này và cho biết Thúy Hằng vẫn khỏe mạnh, ít xuất hiện trong sinh hoạt văn nghệ, chỉ thỉnh thoảng lưu diễn trong cộng đồng.
Trang báo trong nước tung tin đồn thất thiệt về ca sĩ Thúy Hằng
Hình ảnh hiện nay của “nha sĩ Thúy Hằng” cùng với chồng
Vợ chồng ca sĩ Thúy Hằng
Thúy Hằng là trường hợp hiếm hoi, hoặc có thể xem là duy nhất trong các ca sĩ hải ngoại, là ca sĩ mang hai dòng máu Việt – Mỹ, nổi tiếng từ rất sớm, nhưng cũng giã từ hào quang sân khấu rất sớm khi mới ngoài 20 tuổi.
Đông Kha
(tham khảo tin tức từ nhà báo Khuê Văn hải ngoại)

Nhạc sĩ Anh Việt Thanh và sự nhầm lẫn về tác giả bài hát Vùng Lá Me Bay


Nhạc sĩ Anh Việt Thanh tên thật là Đặng Văn Quang, sinh năm 1936 tại làng An Hữu, tổng Phong Phú, quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
Ông là tác giả của bài hát nổi tiếng Vùng Lá Me Bay được ca sĩ Giao Linh hát trước năm 75. Năm 2011, trung tâm Thuý Nga thực hiện lại bài hát này với tiếng hát Như Quỳnh, ngay lập tức bài hát đã trở thành 1 hit được rất nhiều khán giả yêu mến cho đến ngày nay. Tuy nhiên có một sự nhầm lẫn đáng tiếc là lúc đó MC Nguyễn Ngọc Ngạn giới thiệu tác giả bài Vùng Lá Me Bay là nhạc sĩ Trần Quang Lộc, sự tắc trách này đã làm cho nhiều khán giả nhầm lẫn về nhạc sĩ sáng tác bài Vùng Lá Me Bay trong gần 10 năm qua.
CD Như Quỳnh được Thuý Nga phát hành năm 2011, ghi tác giả bài Vùng Lá Me Bay là Trần Quang Lộc

Như Quỳnh làm “hồi sinh” bài hát Vùng Lá Me Bay khi hát trên Paris by night năm 2011
Nói đúng ra, Như Quỳnh không phải là ca sĩ đầu tiên hát Vùng Lá Me Bay sau năm 1975. Hồi đầu thập niên 1990, trung tâm Thuý Anh đã thực hiện 1 CD nhạc Tuấn Vũ – Phương Dung với chủ đề Vùng Lá Me Bay. Bài hát này được Tuấn Vũ hát trong thời kỳ đỉnh cao phong độ nhất của anh, nhưng Vùng Lá Me Bay của Tuấn Vũ không tạo được hiệu ứng tốt và bài hát này lại đi vào quên lãng cho đến khi được Như Quỳnh hát vào năm 2011 trên Paris By Night.

Nghe Tuấn Vũ hát Vùng Lá Me Bay
Tác giả của bài Vùng Lá Me Bay là nhạc sĩ Anh Việt Thanh, vốn xuất thân từ gia đình nhạc sĩ có chú và anh trong nhóm nhạc Đức Quỳnh, Mạnh Phát, Châu Kỳ và Hoàng Bửu. Nhờ sự hấp thụ một nền nhạc lý vững vàng của gia đình, ông học hòa âm sáng tác của nhạc sĩ Lê Văn Tài và ngón đàn độc đáo do những nhạc sĩ Nam Huyền, Văn Khánh, Hoàng Bửu truyền dạy. Anh Việt Thanh bắt đầu sáng tác năm 1958 sau đó dạy đàn và dạy nhạc lý. Từ năm 1960 đến 1975, ông đi dạy nhạc ở nhiều nơi như Đà Lạt, Định Tường, Đà Nẵng, Sài Gòn. Ông là thành viên của nhóm sáng tác thuộc Cục Chính huấn. Ông còn là phụ tá giám đốc cho hãng băng nhạc Nhã Ca.
Năm 1980, Anh Việt Thanh cùng gia đình sang định cư tại Troyes, Pháp và ông qua đời ngày 12/3/2015 tại đây.
Về bút danh Anh Việt Thanh, thường gây nhầm lẫn với tên nhạc sĩ Anh Việt Thu, là một tác giả chói sáng trong nền âm nhạc miền Nam. Khi được hỏi vì sao lấy bút danh này, ông giải thích như sau: “Sở dĩ tôi lấy tên Anh Việt Thanh là vì tôi và Anh Việt Thu ở cùng làng, có bà con xa bên mẹ, hơn nữa tôi rất phục tài của Anh Việt Thu, nên ước muốn nơi chúng tôi sinh ra có nhiều nhạc sĩ”.
Nhạc sĩ Anh Việt Thu ra đi rất sớm, vào ngày 15/3/1975. Như một định mệnh, tròm trèm 40 năm sau, vào ngày 12/3/2015, nhạc sĩ Anh Việt Thanh đã qua đời.
Nhạc của Anh Việt Thanh chủ yếu sử dụng điệu Blues nức nở với cung la thứ. Thỉnh thoảng có một số bài viết theo điệu Bolero như: Hẹn em ngày về, Phố cũ người xưa… Nhìn chung nhạc của ông là viết theo chiều hướng phục vụ cho giới mộ điệu trẻ như sinh viên, học sinh Sài Gòn và người lính. Một số bài hát của ông được Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội chọn trình bày trong các kỳ đại nhạc hội với các giọng ca thể hiện như Hùng Cường, Chế Linh, Thanh Phong, Phương Hoài Tâm …
“Vùng lá me bay” là tác phẩm cuối cùng được Anh Việt Thanh viết trong khoảng mùa hè đỏ lửa 1972. (Sau khi sang định cư ở Pháp, ông nghiêng về phổ nhạc từ thơ của một số thi sĩ hải ngoại).

Giao Linh hát Vùng Lá Me Bay trong băng Kim Đằng 5, ghi tên bài hát là Nhìn Lá Me Bay
Anh Việt Thanh đã cống hiến cho đời những nhạc phẩm trữ tình đầy nét thơ; có những nhạc phẩm từng vang bóng một thời trước năm 1975: Vùng Lá Me Bay (Giao Linh trình bày), Lính Thích 33 (Hùng Cường trình bày) Tình Khúc Cho Người Cô Đơn, Yêu Thầm (Mai Lệ Huyền trình bày), Bụi Đời (Hùng Cường trình bày), Cho Nhau Chiều Thứ Bảy (Thanh Hùng trình bày), Đời Con Gái (Trang Mỹ Dung, Khánh Ly trình bày) Một Thuở Xa Người (Khánh Ly, Phương Dung trình bày), Hẹn Em Ngày Về (trình bày Thanh Tuyền), Ngày Xưa Em Nói (Trình bày Phương Dung), Ngày Tháng Cho Người…
Những sáng tác chung với các nhạc sĩ khác:
Mưa Đêm Tỉnh Nhỏ (viết chung với Hà Phương), Bụi Đời 2, 3 (Anh Việt Phương), Phố Cũ Người Xưa (Anh Việt Phương), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh), Ngày Xưa Em Nói (Anh Việt Linh), Chuyện Tình Thiên Nga (Huy Thanh), Chuyện Mưa Mây (Phạm Chinh Đông), Tình Mùa Ly Biệt (Trúc Minh)…
Đông Kha

Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019


 20 Bài thơ lục bát hay nhất của nhà thơ Chu Long

 24-02-2019  
Lục bát là một thể thơ dân gian rất dễ đi vào lòng người, dễ thuộc dễ nhớ. Tuy nhiên để viết thơ lục bát hay không đơn giản, bởi lục bát có những qui tắc về thanh luật rất chặt chẽ. Đã rất nhiều nhà thơ thử sức với lục bát, trong đó có nhà thơ Chu Long. Nhà thơ Chu Long tên thật là Chu Văn Long sinh 1957 Trú tại số 14/2/25/229/Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng, hiện là công nhân đã nghỉ hưu. Anh cũng đã từng tham gia quân ngũ. Anh đã có 4 tập thơ in tại Nhà xuất bản Hải Phòng và nhà xuất bản Hội nhà văn đó là "Thơ Tình" (nxb Hải Phòng), "Mẹ Tôi" ( nxb Hội nhà văn), Nhân Tình Thế Thái" (nxb Hải Phòng) và "Tội Lỗi Và Sám Hối" (nxb Hải Phòng). Ngoài ra anh còn có thơ đăng trên báo văn Nghệ, Báo Người Hà Nội, báo Sài Gòn Giải phóng ...và một số báo địa phương. Ngoài thơ anh còn viết truyện ngắn và phê bình văn học. Chu Long viết khá nhiều, các thể loại thơ. Toplist.vn xin giới thiệu những bài thơ lục bát hay của anh.

Bài thơ   :   NHỚ QUÊ



Dòng nước chảy -Tiếng chèo bơi
Gió bên sông quyện tiếng người bên sông
Mênh mông nước cả mênh mông
Đôi dòng xuôi ngược đỏ hồng phù sa.

Nhìn sông gợi nhớ quê nhà
Tiếng chó đêm sủa tiếng gà sang canh
Tiếng dế dưới bãi cỏ xanh 
Hương đồng quê vị ngọt lành đất quê

Nhớ vườn cây trái xum xuê
Tiếng chim gáy gụ gọi về  tháng năm
Gió nồm nam ánh trăng rằm
Tiếng sương đêm hạ tiếng tằm nhả tơ

Nhớ về năm tháng tuổi thơ
Quê hương tiếng mẹ ầu ơ ngọt ngào.
2019 Thơ Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :   VỀ QUÊ EM NHÉ


Về quê em nhé  - Về quê
Ngắm dòng sông lượn con đê hiền hòa
Vị đất ngọt sắc phù sa
Hương đồng gió nội quê nhà mênh mang

Bóng tre rợp mát đường làng
Màn sương khói tỏa dịu dàng lam xanh
Bên nhau già trẻ quây quanh
Nồi cơm gạo mới bát canh cua đồng

Cà pháo muối kiểu nhà nông
Mắm cáy xổi ớt cay nồng hương xưa
Về quê em nhé - Anh đưa
Em đi thăm khắp cảnh xưa quê nhà.
Thơ Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :       QUÊ  HƯƠNG TÔI



Chân trời hồng dải hoàng hôn
Đê nằm mềm mại-Đồng ôm nắng chiều  
Lưng trâu trẻ thả tiếng tiêu
Trời xanh lộng gió sáo diều âm ngân

Tiếng gà ngan vịt trên sân
Lợn kêu ủn ỉn đòi phần bữa ăn
Mặt ao bóng nước tròn lăn
Cá đi sục sạo thả tăm tìm mồi

Mướp vươn bầu bí xanh chồi 
Vườn chanh cam bưởi ớt ngời khoe bông.
Bà cười đưa mắt nhìn ông
Miệng nhai trầu thuốc vôi nồng vị cay

Ông ngồi chiếc điếu cầm tay
Mắt nhìn khói thuốc lào say mơ màng
Khói lam chiều tỏa khắp làng
Mùi thơm gạo mới dịu dàng bay xa

Cổng làng mát tán bóng đa
Mái đình chùa cổ hiền hòa mộng mơ
Quê hương đầy ắp tuổi thơ
Xa quê là lại thẫn thờ nhớ quê…!
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :     QUÊ HƯƠNG


Quê hương ơi lúa thơm nồng
Nhớ đầm sen ngát sắc hồng tháng năm.
Ao sâu đàn cá thả tăm
Bờ cao ngan ngỗng vịt nằm ngủ mơ

Hoa ngô theo gió phất cờ
Rau xanh ngát ruộng tươi bờ khoai lang.
Gốc tre trâu nghé mơ màng
Miệng nhai bỏm bẻm sợi vàng tươi rơm

Quây quần già trẻ mâm cơm
Không gian lan tỏa mùi thơm gạo mùa.
Chuông nhẹ thỉnh-Mõ đều khua
Âm thanh trầm bổng ngôi chùa làng bên

Hoàng hôn xuống - Ánh đèn lên
Côn trùng rỉ rả nhạc rền thiết tha.
Tiếng ai trong gió mượt mà
Lời thương quyện thả ngân nga vọng về

Nghe hồn ngơ ngẩn tâm mê
Trong lòng thấy đậm tình quê ngọt ngào.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ :      NHỚ HOÀI MÃI NHỚ…!



Nhớ hè nhớ nắng vàng trưa
Nhơ gió nam mát nhớ mưa hạ về
Nhớ con diều nhớ triền đê
Nhớ bờ sông nhớ làng quê hiền hòa.

Nhớ sân đình nhớ bóng đa
Nhớ con đường cỏ nhớ nhà mái tranh
Nhớ mảnh vườn lũy tre xanh
Nhớ giàn bầu bí bưởi chanh cam đào.

Nhớ hàng cau nhớ bờ ao
Nhớ chim cu gáy nhớ chào mào kêu
Nhớ ngõ nhỏ mảnh sân rêu
Nhớ bình minh ló nhớ chiều hoàng hôn.

Nhớ tiếng giã gạo rập rồn
Nhớ cối xay thóc tiếng còn đâu đây
Nhớ đàn ngan nhớ vịt bầy
Nhơ trâu bò nghé nhớ cày chìa vôi.

Nhớ hoài mãi nhớ khôn ngôi
Nhớ hình bóng mẹ trong tôi nhớ hoài …
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ :     NHỚ QUÊ


  
Mái đình cổ kính còn đây
Giếng trong nước mát ngọt đầy nguyên xưa
Bên sông vẫn chiếc đò đưa
Cây đa tỏa bóng mát trưa vẫn còn
Mái chùa tươi ngói nâu non
Lời kinh chuông mõ ru hồn nao nao
Hàng phi lao gió rì rào
Đồng quê vị lúa ngạt ngào tỏa hương.
   
Tre xanh phủ mát bên đường  
Cánh đồng uống nước con mương chảy về                                                
Tiếng ve con cuốc gọi hè
Tiếng chim cu gáy chích chòe chim sâu
Tiếng chào mào hót tìm nhau  
Tiếng chim chèo bẻo sẻ nâu dịu dàng
Ngắm  hoàng hôn -nhớ nắng vàng
Nhìn bình minh - nhớ xóm làng quê thôn…
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:          GÓC QUÊ


Bình minh một giải lụa êm
Phơi lên bờ cỏ mượt mềm đang xuân
Mây bay thấp thoáng xa gần
Gió rơi từng khoảng góc sân vườn nhà.

Giàn bầu bí mướp đang hoa
Bờ ao ngan vịt ngỗng gà bên nhau
Trầu xanh ẩn dưới bóng cau
Trái dừa tròn lẩn trong màu không gian.

Bếp nhà ai khói giăng màn
Lời thơ cất tiếng tỏa lan nụ cười
Hương thơm gạo mới rau tươi
Quyện cùng mùi vị đất trời đồng quê.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ :        CHIỀU QUÊ


Nắng chiều óng ả vàng tơ
Quàng tay âu yếm ôm bờ vai quê
Trâu đàn gặm cỏ trên đê
Sáo diều trầm bỏng nghe mê mẩn người

Dòng sông con nước đầy vơi
Con đò nằm bến ngắm trời bao la.
Làng quê ôm những nóc nhà
Đồng xanh biển lúa mượt mà mênh mang

Nắng chiều trải kín thôn làng 
Mây màu phủ sắc dát vàng khoảng không
Trời cao cò mỏi cánh vòng
Tiếng kêu vang cả cánh đồng chiều quê.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:       MÊNH MÔNG



Bình minh lấp lánh ánh vàng
Rắc tràn đồng lúa ruộng làng miền quê
Gió vi vu gió nhẹ về
Nắng rơi từng hạt bốn bề nắng tan.

Mùi hương đồng đất nồng nàn
Cánh chim bay lượn bình an giữa trời
Bồng bềnh mây gió dong chơi
Quê hương soi ngắm bầu trời…mênh mông !
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ :       HOA PHONG LAN



Người ơi hãy đến quê tôi*
Ngắm phong lan nở ngập trời mùa xuân

Long tu Hồ điệp Hàm lân
Tím vàng hồng tía trắng ngần đỏ hung
Tóc tiên Cẩm báo Huyết nhung
Vân hài Hạc đỉnh quyện cùng hương bay.

Giả hạc Ý thảo Long giầy
Ngọc Điếm Kim điệp và đây Hỏa hoàng
Giả tiên Kim tuyến Thạch lan
Hồng lâu Tuyết ngọc hương ngan ngát nồng.

Lan kiếm Thanh ngọc Hài hồng
Hoàng thảo Hạc vĩ đuôi Rồng Bạch câu
Hoa phong lan đủ sắc màu
Hoa tình hương nghĩa thật giàu lòng nhân…
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:    QUÊ HƯƠNG TÔI ĐÓ HẢI PHÒNG



Cát Bà quần đảo như thơ
Biển-Vườn sinh thái nguyên sơ trong lòng.
Quê hương tôi đó Hải Phòng
Đồ Sơn lễ hội thuyền Rồng chọi trâu
Kim Sơn Kiến Thụy vật cầu
Thủy Nguyên hát đúm sắc màu dân gian.
Hội cá Cát Hải cầu an
Núi Voi động thẳm non ngàn đẹp mê
Bao địa danh hội làng quê
Hòa trong văn hóa đất nề ngàn xưa.

Ẩm thực canh bánh đa cua
Món ăn từ biển bốn mùa tươi ngon
Bánh mỳ cay nóng thơm giòn
Nem rán cua bể tiếng đồn gần xa.

Bún cá thập cẩm quê nhà
Bánh bèo nhân thịt ăn là nhớ ngay
Lẩu cua đồng ngửi đã say
Bánh cuốn nóng chả cắt dầy thịt viên.
Di tích đền phủ chùa chiền
Bạch Hoa công chúa thờ đền Tiên Nga
Lễ phủThượng Đoạn tháng ba
Phú Xá tháng tám giỗ cha Đức Trần.

Đền Nghè thờ Tướng Lê Chân
Suối Rồng Bà Đế thánh thần Vạn Ngang
Đền Tam Kỳ chùa Linh Quang
Chùa Vẻn chùa Cấm chùa Hàng Phổ Minh.

Chùa Chiếu chùa Đỏ Hải Ninh
Đông Khê chùa Vẽ Cao Linh An Đà
Trà Phương Tự chùa Vân Tra 
Phúc Linh Đồng Dụ kể ra còn nhiều.

Quê tôi giàu đẹp mến yêu
Danh lam di tích còn nhiều người ơi
Mời bạn hãy đến thăm chơi
Hải Phòng hiếu khách tình người đậm sâu!
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:     ĐẤT VÀ NGƯỜI HẢI PHÒNG

   

Thành phố cảng biển Hải Phòng
Quê hương tôi Phượng đỏ hồng tháng năm
Xin mời người hãy đến thăm
Địa linh nhân kiệt tiếng tăm lẫy lừng.

Công thần khai Quốc triều Trưng
Lê Chân nữ tướng anh hùng hiên ngang
Đây dòng sông Bạch Đằng Giang 
Vùi chôn xác giặc ngâm gan tim thù.

Cổ Trai ngân mãi lời ru
Kinh thành nhà Mạc bao thu vững bền
Trung Am Vĩnh Bảo tọa đền
Bỉnh Khiêm tiến sĩ thơm tên ngàn đời.

Hải Phòng lộng gió biển khơi
Đức-Tín-Lễ-Nghĩa lòng người thủy chung
Bao dung nhân ái vô cùng
Độ lượng rộng rãi hiếu trung thật thà.

Đất lành tỏa ngát hương Hoa
Khiến quân giặc cướp gian tà hồn bay 
Bác Thiện* Đức Cảnh* còn đây 
Bóng bác Tô Hiệu* bên cây hoa đào.

Hoàng Quý-Đoàn Chuẩn-Văn Cao*
Thụy Miên*âm nhạc đã vào lòng dân
Trần Hoàn-Tô Vũ-Canh Thân*
Tâm hồn làm đẹp mùa xuân Hải Phòng.

Tháng năm màu thắm phượng hồng
Trời xanh thắp lửa đỏ lòng phố xa
Cát dài-Cát Cụt-Hai bà
Quang Trung-Trần Phú sắc hoa ngợp đường.
Hoàng văn Thụ -Nguyễn Tri Phương
Phố Nguyễn Đức Cảnh con đường Mê Linh
Đường Trần Nguyên Hãn-Trường Chinh
Lãn Ông-Tôn Đản-Trạng Trình-Ký Con.

Chợ Sắt-Tam Bạc-chợ Đôn
An Dương-Máy Đá-chợ Con-Cột Đèn
Chợ Đổ-Cố Đạo-Lạc Viên
Chợ Hàng+chợ Giá+họp phiên theo ngày

Những tên cầu Bính cầu Quay
Cầu Kiền cầu Khuể nhớ cây cầu Rào
Cầu Niệm-Tiên Cựu-Quý Cao
Cây Cầu Tân Vũ (*)tự hào Việt nam.

Những khu công nghiệp Quán Toan
An Dương-Tiên lãng-An tràng-Tân Liên
No mu ra-Nam cầu Kiền
Tràng Cát-Đình Vũ-Thủy Nguyên-Bến Rừng.

Mai vàng đào đỏ sắc bừng
Hải Phòng đất Cảng đón mừng mùa xuân
Lời thân gửi khắp xa gần
Bạn ơi hãy đến một lần quê tôi!
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:     QUÊ TÔI



Nhìn trời vàng nắng hạ bay   
Ngắm cành phượng vỹ đỏ cây mơ màng 
Tiếng ve đón hạ xốn xang 
Lời chim ríu rít chúng đang gọi tình

Vườn quê trái chín tròn xinh 
Cây khoe dáng lá thả mình đong đưa
Sen hồng quyện sắc nắng trưa
Hương đất quê trộn vị xưa cỏ đồng

Bờ ao ngan vịt rỉa lông
Tre xanh tiếng hót chích bông chào mào
Mướp cà bầu ớt bí đao 
Mồng tơi đay muống xanh chao nắng trời

Tiếng cha nói giọng mẹ cười
Tình làng nghĩa xóm lòng người thân thương
Dù đi tám hướng bốn phương
Làm sao quên được quê hương Việt mình
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ:   HUẾ YÊU


Nay về thăm lại Huế yêu
Dòng Hương xuôi ngược thủy triều đầy vơi
Ngự Bình non đẹp xa vời
Mắt em in bóng khoảng trời trăng tơ

Huế chiều êm ả mộng mơ
Dáng em lạc giữa vần thơ tình đầy 
Nắng hồng Huế nhuộm chân mây
Sợi mềm mại nhẹ vàng bay thả mầu.

Áo dài em đứng trên cầu
Trường Tiền soi bóng trắng màu trinh nguyên
Giọng em gái Huế dịu hiền
Ẩn trong đuôi mắt sáng bên ánh chiều.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ: HUẾ THƯƠNG


Núi Ngự Bình tựa bài thơ
Hương Giang một dải lụa tơ thả mình
Trường Tiền soi bóng lung linh
Đất trời sông núi hữu tình bên nhau.

Gió mênh mang Phú Văn Lâu
Thuyền ai thả lưới bên đầu Tam Giang .
Nước ra vào cửa Thuận An
Biển xanh gió lộng mênh mang nắng chiều.

Huế ơi còn biết bao nhiêu 
Cố đô cổ kính bao điều quanh ta
Chùa Thiên Mụ Hà Khê xa .
Trên đồi Vọng Cảnh trông ra khoảng trời.

Bao nhiêu cảnh đẹp Huế ơi !
Em trường Đồng khánh áo ngời trắng bay.
Núi Bạch Mã ngả trong mây
Thác Mơ dòng nước mát say dương trần

Huế ơi em Huế mùa xuân 
Cho tôi xin được một lần cùng em
Một lần bên Huế được để đem
Tim tôi bến đỗ êm đềm ...Huế thương !
2018 Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ :      HUẾ ƠI



Dưới trời Huế biếc xanh trong
Cố đô vàng nhẹ ánh hồng nắng thu.
Núi Bạch Mã tọa trầm ru 
Tiếng chuông Thiên Mụ tĩnh tu lòng người 

Hương Giang nước quyện mây trời  
Giọng hò xứ Huế điệu khơi mượt mà .
Cổng trường Đồng Khánh chiều tà
Áo em dài trắng bóng nhòa hoàng hôn 

Bên cầu ai đứng thả hồn
Trường Tiền ai đợi ai còn nhớ ai
Huế ơi em nắng ban mai 
Đi đâu cũng nhớ …nhớ hoài Huế ơi !
Chu long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :           PHỐ BIỂN CHIỀU THU 


Hoàng hôn chiều nắng mênh mang
Thả lòng phố biển dệt vàng bức tranh
Con đường bóng mát cây xanh
Tiếng chim gọi bạn truyền cành cao ngân.

Phố dài lạc dưới bước chân
Gót son em thả Mùa xuân mỹ miều
Dịu dàng ơi ánh nắng chiều
Mắt huyền sương đọng má yêu chín hồng.

Chiều về phố biển người đông
Cuối hè thưa cánh phượng hồng thắm tươi
Lá vàng nhẹ lác đác rơi
Thu về bóng ngả cuối trời hoàng hôn.

Biển chiều đẹp đến mê hồn
Sóng ôm bờ cát nước hôn mạn thuyền
Nhìn dòng chảy thủy triều lên
Mang con gió mát dịu miền hương quê.

Chiều nay phố biển tôi về
Ngắm bờ cát mịn miền quê hiền hòa
Được nằm trong biển bao la
Nếm mùi hương vị mặn mà biển ru.
Tôi về phố biển chiều thu
Tìm người xưa cũ phiêu du cùng người.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :          BIỂN CHIỀU MÙA HẠ 



Đầy trời vàng nắng hạ rơi
Nhuộm lòng phố biển phượng ngời sắc hoa
Cành cao ríu rít chim ca
Tiếng ve gọi hạ ngân nga dịu dàng.

Biển chiều xanh nước mênh mang
Hồn tôi như sợi tơ vàng nhẹ bay
Bước chân trên bãi cát đầy
Mắt ngơ ngẩn trước trời mây bềnh bồng.

Biển chiều đẹp rộng mênh mông
Những con sóng vỗ phía đông dội về
Thả mình trong biển đê mê
Hồn phiêu lãng đắm bốn bề biển xanh.

Nhìn con sóng vỗ êm lành
Xoa bờ cát mịn âm thanh rì rào
Hòa cùng tiếng gió lao xao
Quyện hoàng hôn tím nghiêng chao chân trời.
Chiều mùa hạ biển và tôi !
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)

Bài thơ  :         GIEO GÌ GẶT NẤY



Cũng là lời nói nói ra 
Thơm như hương lúa vị hoa đồng làng 
Ngôn từ êm dịu nhẹ nhàng 
Người điên cũng thấy dịu dàng trong tâm.

Một lời nói như dao đâm 
Như thuốc độc vạn kim châm vào người 
Làm cho máu đỏ lệ rơi 
Tan nhà nát cửa hại đời trung nhân.

Xin ai hãy nghĩ cho gần 
Gieo gì gặt nấy đến lần mình thôi.
Chu Long
Ảnh Chu Minh Khôi
Ảnh Chu Minh Khôi

Bài thơ :       NHÂN GIAN NÓI



“Chết là hết” một cuộc đời
Nhưng chỉ là hết với người ra đi 
Còn người sống khổ sầu bi 
Trong tim khoảng trống lấy gì lấp đây.

“Đời là bể khổ” trần đày 
Nhưng ai muốn bỏ chốn này đi không
Biết sắp chết vẫn chờ trông 
Chắt chiu từng chút ánh hồng hồi sinh.

Đương thời không thấu nhân tình 
Lấy tiền quyền lực để sinh quyền tiền
Chết rồi cũng chẳng được yên
Bia tiếng miệng thế vạn niên chẳng mờ.
Chu Long
Ảnh minh họa (nguồn internet)
Ảnh minh họa (nguồn internet)