Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

Tản mạn tháng Tư đen thứ 39 ! kỳ 1: Việt Nam: 39 Năm Đảng trị — Một Quốc Gia, Hai Quốc Dân

Tản mạn tháng Tư đen thứ 39 ! kỳ 1: Việt Nam: 39 Năm Đảng trị — Một Quốc Gia, Hai Quốc Dân

Lay hoay tháng Tư lại trở về. Đó chỉ là lịch, đó chỉ là một cái mốc của thời gian. Nhưng đối với đa số người Việt chúng ta, nhứt là những người gốc miền Nam Việt Nam, hay đã từng cư ngụ tại miền Nam, tháng Tư là tháng của những kỷ niệm đầy tang tóc, của một quá khứ hãi hùng, của một cái vết thương không thành sẹo được. Miền Nam Việt Nam và dân chúng đã “thua trận” [dù chưa chắc đã “thua cuộc”], và đã lãnh cái giá rất đắt của một sự trả thù cho sự lựa chọn một cách sống của mình. Đây là một cuộc nội chiến, cũng như tất cả những cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn chỉ tranh chấp trong một cái nhìn, một quan niệm về cuộc sống.
2014 MAR 28 TuCaiTao 300
1. Cuộc chiến giữa hai quan niệm chánh trị
Phải, đây là một cuộc đụng độ không đội trời chung của của hai nhơn sanh quan, của hai luồng tư tưởng. Một bên là cuộc chiến đấu của phe những con tim, của những đạo đức, của những đức tin vào tâm linh nhơn bản, tình tự dân tộc, tình tự gia đình, chống bọn phe của những người bị một lý thuyết mỵ dân, lường gạt, hứa một thiên đàng không bao giờ có, hứa những của cải, những ruộng vườn không bao giờ cho, hoàn toàn  Cộng sản hóa, những người đang tâm nhận làm thầy những ông râu xồm ngoại bang với những lý thuyết vô thần, vô đạo, mơ tạo một thế giới lấy người thay máy móc, lấy con người làm công cụ sản xuất, lấy nhu cầu xác thịt làm cứu cánh phục vụ cho một tổ chức cầm quyền quốc tế. Đảng Cộng sản được một tổ chức như một tôn giáo, để thay thế tôn giáo, thay đạo đức tâm linh bằng những bổn phận ngụy danh như cách mạng, nhơn dân, thay thần quyền bằng đảng quyền. Những Các Mác, những Lê Nin dùng những lời sấm giảng như những Ma-thi-ơ, Giăng, Mác hay Luca…Xì Ta lin thì khác chi Phao lồ…Đảng Cộng sản quốc tế tổ chức rập khuôn theo tổ chức Giáo hội Thiên Chúa Giáo La mã, với Điện Cẩm Linh tương tự Điện Vatican. Khi có những tư tưởng Mao ít hay Titô ít bất đồng với Cẩm Linh thì như trong Giáo hội Thiên Chúa Giáo cũng có những dòng tư tưởng bất đồng tương tự. Tư tưởng con người, với sức tiến hóa, với sức phát triển của khoa học, mọi lý thuyết đều phải biết biến cải để hòa hợp với thời đại. Phật Giáo Tây Tạng cũng nhiều phái, Mũ Vàng, Mũ Đỏ,… Phật Giáo cũng phải chia Tiểu Thừa Đại Thừa, Thiên Chúa Giáo cũng nào Chánh Thống, nào Copte, nào Roma, cũng Tin lành …Nhưng với Cộng sản tất cả phải về một mối. Cộng sản không chấp nhận những tư tưởng khác: Đệ tam đã tiêu diệt các bạn đồng hành đệ tứ chỉ vì bất đồng quan điểm, với Cộng sản không thể có đối thoại, không thể có tranh chấp, tranh cải dân chủ …Chẳng những ở Nga, ở Tàu mà còn cả ở Việt Nam. Hồ Chí Minh và đệ tử nhơn danh chủ nghĩa Cộng sản Đệ tam đã đưa đất nước vào 30 năm chinh chiến chỉ để áp dụng chủ nghĩa Cộng sản thôi ! Chống Pháp dành Độc Lập chỉ là một cái cớ, Những bánh vẽ như Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc chỉ là những từ ngữ trống không, vô nghĩa.
2.  69 năm sau (1945-2014)
 Độc Lập ? Việt Nam đang bị Hán Hóa, Hoàng Sa Trường Sa hai quần đảo cách bờ dưới 200 hải lý không còn thuộc đất nước nữa, chưa kể trên đất liền từng hàng ngàn mẫu đất rừng nay đã bán đứt cho Tàu trồng cây hay khai thác mõ. Từng mẫu đất trồng cây kỹ nghệ đẵ giao cho Tàu để đào xới khai thác mõ Bô Xít hay khoánh sản.
Tự Do ?  mỗi mỗi cử chỉ hành động ngoại giao đều phải qua Tàu hỏi ý kiến, ấy là chánh phủ . Còn người dân ? chỉ trích bị đi tù, biểu tình đòi Tàu trả đảo bị đàn áp đánh đập, hàng chục tờ báo không có một tờ báo tư…
Hạnh Phúc ? ai sống hạnh phúc ? thành phần cán bộ, đảng viên… thế giới của kẻ cầm quyền, của một nomenklatura.  Sài gòn Hà nội nhan nhản em bé bán vé số, chị bán hàng rong, cảnh những hàng người chuyên nghề cửu vạn, cu li sắp hàng buổi sáng chờ người thuê vẫn còn như thời Pháp thuộc.
Chiến tranh giải phóng? giải phóng gì ? giải phóng ai ? Khi Vua Bảo Đại đã hai lần lấy lại Độc lập, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục đánh, không chấp nhận chánh phủ Bảo Đại;  lần đầu năm 45 khi Nhựt đánh Pháp giao trả Việt Nam lại, và lần thứ hai năm 1949 khi Pháp trả Độc lập vĩnh viễn cho Việt Nam. Cuộc chiến tranh do Hô Chí Minh xúi dục là một cuộc xâm chiếm, chiến tranh xâm lược nầy đã nướng hai thế hệ thanh niên thanh nữ việt nam, cuộc chiến Bắc Nam đã buộc thanh niên nam nữ miền Bắc vượt Trường Sơn chết cho xâm chiếm, buộc  thanh niên nam nữ  miền Nam chết cho tự vệ; và chẳng chốc biến hai miền thành hai nước khác nhau, với hai nguồn tư tưởng khác nhau, với hai nền văn hóa khác nhau :
Một bên phóng khoán, dân tộc, nhơn bản đặt con người làm trọng tâm, đặt đất nước và lịch sử đất nước làm căn bản, lấy tâm linh tôn giáo làm đạo đức, lấy tình thương lân bang láng giềng, anh em gia đình làm lễ nghĩa, ra đường biết thưa vâng, về nhà biết thưa gởi, khi nhận biết cám ơn, khi đưa biết xin phép.
Còn một bên, không tình không nghĩa, tất cả quan hệ chỉ là tranh chấp, lấy lường gạt làm nền tảng, lấy cướp đoạt  làm khí cụ, bé xin, lớn ban, thấp cổ xưng con, lớn mình xưng ông, ra đường chen lấn, về nhà nói trổng nói ngang, chữ thưa không còn, chữ cám ơn không có, quan trên xài của công, cấp dưới xài của cắp. Ra đường thấy hàng đẹp thì chôm, vào nhà thấy hàng ngon thì đớp.
Trong hai mươi năm mặc dù  chiến tranh,mặc dù bị quấy phá, mặc dù nội bị công ngoại bị kích, nhưng với chế độ Cộng hòa của miền Nam, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa vẫn phát triển mạnh, dân trí người công dân Việt Nam Cộng hòa vẫn đàng hoàng, dân tình người Việt miền Nam vẫn tử tế…Ngày ba mươi tháng tư 1975 đến, trên toàn đất nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, tuy từ nay đã hết chiến tranh, tuy từ nay người dân hết chạy nạn, nhưng khi kiểm điểm lại, ba mươi  chín năm sau, nền kinh tế vãn èo uộc, rối loạn, cuộc sống người dân Việt chụp giựt, quan trên bằng giả, cấp dưới bằng chôm, ra đường hàng dổm, vào nhà hàng dơ…Biên giới mất đất, bị Trung Cộng lấn dần, Biển Đông mất đảo, Hoàng Sa, Trường Sa nay thuộc Huyên Tam Sa do Trung Cộng quản nhiệm. Núi cao do Tàu quản, khai thác Bô Xít, tàn phá môi trường, biển sâu do Tàu chiếm, cấm ngư phủ ta đánh cá xa bờ…Công trường xây dựng giao cả cho Tàu, công ty thương mãi giao luôn cho Chệt, còn dân Việt ta, can phận nghèo hèn, bán buôn quan gánh, thuốc lá bán lẻ, thuốc tây bán viên, ăn uống vĩa hè, sống sanh đường hẻm…  
3. Tại sao phải vấn nạn như vậy?
Cũng chỉ lựa sai con đường. Đem một học thuyết phá hoại của ngoại bang nhập cảng vào nhà. Một học thuyết bắt đầu bằng một cuộc sang đoạt cướp của, xóa bỏ cương thường, vứt bỏ đạo lý, dẹp xóa tâm linh. Năm 1917, Đảng Cộng sản Nga đã cướp chánh quyền, sát hại cả gia đình Nga Hoàng Nicolas Đệ Nhị, tàn sát toàn bộ giòng họ Romanov, các giai cấp quý tộc, địa chủ, doanh thương Nga để lập một nhà cầm quyền độc tài chuyên chính vô sản. Lénine, và tiếp theo Staline đã phải giết, tàn sát, bắt giam, đày đọa hàng chục ngàn thường dân Nga vô tội, giết và bỏ tù các nhà trí thức, các kẻ viết văn. Những trại giam, những goulag mọc đầy toàn nước Nga. Dưới danh nghĩa Liên bang Sô Viết, Nga đã Nga hóa cả chục dân tộc khác nhau, cùng chủng tộc Slave như Belarus, hay khác chủng tộc, như Ukraine hay Georgie, cùng gia đình ngôn ngữ hay khác gia đình ngôn ngữ cũng mặc, thậm chí cả các quốc gia và dân tộc hồi giáo nói ngôn ngữ Thổ nhỉ Kỳ nằm dọc con đường Tơ lụa xưa kia, từ Kazhastan đến Kirghistan đến tận biên giới Tàu và Thái Bình Dương.
Và Hồ Chí Minh và Việt Nam?
Cũng vậy, Công sản Quốc tế Komintern sai Hồ Chí Minh cùng các đồ đệ tiếp nhiệm vụ nhuộm đỏ thế giới, không ngại ngùng làm tai sai, phản dân tộc, đi tiếp con đường chinh phục thế giới, đem màu Sô Viết nhuộm toàn Đông dương thuộc Pháp. Điển hình không chối cải được là trong một thời gian dài, trên bức tường các đại sảnh đường của nhà cầm quyền đỏ Hà nội, đệ tử và lâu la Đảng Cộng sản Đông dương và Việt Nam đều họp hành sanh hoạt chánh trí dưới hình ảnh của ba ông râu xồm cộng sản ngoại bang tây phương Cạc Mác Lê Nin và Xì ta lin! Khi đã chấp nhận và đưa vào văn hóa Việt Nam một bài thơ khóc Xì ta lin của tay tổ tuyên truyền trưởng ban Văn hóa Việt Nam Cộng sản Tố Hữu là đã mặc nhiên xóa bỏ văn hóa gia đình Việt Nam rồi ! Khi đặt tình thương một tên lãnh tụ một Đảng ngoại bang trên tình thương cha mẹ trên tình thương con mình (thương cha mẹ con thương một, thương ông thương mười !) thì xin miễn bàn, và hết ý kiến ! Ngày nay, với những vướng víu, sai trái như vậy, Tố Hữu vẫn có tên đường. Vua Gia Long có công thống nhứt dựng nước mở mang bờ cỏi về phía Nam không có tên đường. Ôi tháng tư lần thứ 39, đất nước Việt Nam đang tiếp tục đi vào ngõ cụt !
2013 DEC 5 HCM 300 china
4. Apocalypse-Hồ Chí Minh 
Hôm qua, đài Truyền hình 2 Pháp cho chiếu đoạn 3 của tập phim Apocalyse kỷ niệm 100 Thế chiến thứ Nhứt. Thật kinh hoàng, cuộc chiến 1914-1918 được đặt tên là Cuộc Đại Chiến La Grande Guerre. Được đặt tên như vậy là lần đầu tiên trong lịch sử âu châu và thế giới có một cuộc chiến với nhiều quốc gia tham gia như vậy. Ngoài hai đồng minh Đức-Phổ/Áo-Hung phía đông chống hai cường quốc Pháp Anh, hai đế quốc phía tây âu châu với sự góp mặt của các thuộc địa, Anh với Ấn độ, Úc, Tân tây Lan, Nam Phi, Canada …, Pháp với các thuộc địa Bắc Phi, Tây Phi hay Đông dương, lại thêm có Nga, Ý, Thổ nhỉ Kỳ, Nhựt bổn. Mặt trận trải dài hàng ngày cây số, thoạt đầu lưu động, sau đó, đào hào lập chiến lủy ngó nhau và hằng ngày nướng mỗi bên hằng trăm binh sĩ (Pháp trung bình 900 mỗi ngày, khi có các  lần xung phong át xô). Lần đầu tiên, đại bác được sử dụng tối đa, đại bác Grande Bertha 400 ly bắn trên trăm dặm, không chiến cũng được biết tới với những anh hùng nổi tiếng như Hầu tước Đỏ-Le Baron Rouge, với 80 chiến công  Hầu tước Đại Úy Phi công Manfred Von Richthofen với chiếc khu trục ba cánh Fokker sơn mầu đỏ và hai khẩu đại liên. Không chiến thời ấy, các phi công như những hiệp sỉ thời xưa, một mình một ngựa, xông vào địch vừa lái vừa nhào lộn tránh đạn vừa bắn để hạ địch thủ. Ngày 21 tháng tư năm 1918, Hầu tước Đỏ vì quá ham rượt địch bay quá thấp nên lãnh đạn do các binh sĩ Úc bắn từ phía dưới. Anh đáp được máy bay, chỉ nói được một chữ « Kaput-xong đời rồi ! » với anh trung sĩ y tá người Úc Ted Smout trước khi tắt thở. Quân sĩ lực lượng Úc châu rất anh hùng trân trọng làm lễ quân táng tay hiệp sĩ phi công người Phổ nầy. Sáu Đại úy phi công mang quan tài đi trước giàn lính chào, một loạt súng bắn chỉ thiên tiển chưn người anh hùng quá cố. Mộ của vị phi công Hầu tước Đỏ được ai đó ghi dòng chữ « : À notre ennemi vaillant et digne –Tặng người địch thủ can trường và xứng đáng. ».
Kể chuyện người, lại nghĩ đến ta
Càng khen lòng hào hiệp người phương tây, càng khóc cho lòng ty tiện tiểu nhơn của người Cộng sản phương đông mình. Hãy so sánh chuyện vừa kể trên, với cảnh giựt sập Tượng Thương tiếc của Nghĩa trang Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Hay những cảnh hôi của tài sản toàn dân Nam Việt sau ngày thắng trận của quân đội cộng sản Bắc Việt ; hãy nhớ lại những cảnh phe Bắc Việt thắng cuộc chẳng những làm nhục các địch thủ Nam Việt thua cuộc, mà còn đày đọa gia đình vợ con đồng bào miền Nam, mà còn trả thù cả đến những địch thủ đã đền xong nợ nước, chả biết đạo lý, chả biết thế nào là nghĩa tử nghĩa tận : từ những nghĩa trang, đến những góa phụ những con côi dòng dỏi gia đình phe miền Nam gọi với một tôi danh mạ lỵ là « ngụy » cũng bị mang tôi danh ấy như một bảng án lý lịch, bị đuổi nhà, tịch thu tài sản, bị mất chổ làm, bị không được đi học , bị cấm nầy, cấm nọ…
Và đến cả ngày nay, sau 39 năm,  hận thù vẫn còn đó, tội danh ấy vẫn còn, cả miền Nam vẫn là đất Ngụy bị chiếm, con em dân ngụy vẫn là một thứ phó dân.
Nước Việt Nam được gọi là thống nhứt, là một, với một quốc gia lấy tên là Công hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trong nước vẫn là hai thế giới của hai quốc dân, hai loại người Việt :     
  • thế giới của phe nhà cầm quyền, đảng viên hay thân thuộc đảng viên Đảng Cộng sản, cùng với công dân là những người gốc miền Bắc gốc gia đình có công với cuộc chiến xâm lược, loại ấy là công dân, công nhơn viên cao cấp, quân nhơn, công an, hành chánh phủ huyện.. và  
  • thế giới của thứ dân, phó dân, của dân Ngụy của nước Ngụy Nam Việt đất đang bị chiếm..  của anh thợ, của chị bán hàng rong, của anh đạp xích lô, của em bé bán thuốc lá mía ghim…
Chúng ta đừng bao giờ  quên tuyên truyền Cộng sản Bắc Việt lúc thời chiến tranh xâm lược là đi vào Nam đánh Mỹ Ngụy., ..Chứ có bao giờ Bắc Việt gọi chúng ta người miền Nam là người Việt đâu ? Trong lúc ấy dân chúng miền Nam gọi dân quân Bắc Việt là Việt Cộng (người Việt Cộng sản). Chúng ta lúc nào cũng vẫn nhận họ là người Việt, nhưng họkhông nhận chúng ta là người Việt ! Sau đây là một thí dụ điển hình cho sự đối xử sai biệt ấy :
Cùng tù nhơn chống đối Nhà nước Cộng sản, Cù Huy Hà Vũ được Nhà nước Cộng sản Việt Nam chiếu cố lấy tiền nhơn dân Việt Nam cho đi Mỹ chửa bịnh mập, máu cao sau 3 năm nhốt – ở tù mà mập béo quả thật sướng hơn ở tù bên xứ Tây của tui nữa, hèn chi ngày nay dân Việt Nam trong nước nhiều người đấu tranh chống Tàu, đòi đân chủ để được đi tù và may còn ra được xuất ngoại và được Mỹ rước vào nuôi và cấp dưởng –  (tội nghiệp thay cho người tù ! nhơn đạo thay người cầm quyền !) – nhưng Nguyễn Hữu Cầu, gốc là phe ta  miền Nam, là cựu quân ngụy,  tù 35 năm, bệnh gần chết, gầy ốm tong teo vì thiếu ăn, bệnh nặng mới được thả, mà cũng chẳng được gởi đi Mỹ chửa bệnh. Cũng cùng một tội, chống thiên tử, chống quan Thừa tướng, Cù Huy Hà Vũ vi ,là công dân dám kiện quan Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, Nguỳễn Hữu Cầu chỉ vì dân ngụy nên chỉ dám chỉ trích « chưởi »  thôi – cũng ông Nguyễn Tấn Dũng. Nhưng Cù Huy Hà Vũ đã là công dân hạng cao cấp lại còn là người có « nghề », lắm nghề:  nào là Luật sư, nào là công tử đỏ, giai cấp quyền quý, nên nguy hiểm bội phần, còn Nguyễn Hữu Cầu, trên răng dưới dế, chỉ là thằng ngụy thôi, chỉ là thằng thua trận, bực mình, thất chí, anh hùng một tý chưởi « đổng » cho đã cái đầu, cho thông cái trí, hai bàn tay trắng, kiếm ăn không đủ, huống chi lật đổ quan Thừa tướng ! lật đổ nhà cầm quyền ! Vậy mà : hai nhơn vật, hai chế độ đối xử, hai cách hành xử ! Ôi tháng tư đen tối ! Đánh dấu từ đấy những  điển hình của tình trạng pháp lý Việt Nam. Apocalyse-Hồ Chí Minh ! Khủng khiếp ! có thua chi apocalypse Hitler, có thua chi apocalypse Đại Thế Chiến 1. Hai cái kia cho cả nhơn loại, còn Hồ Chí Minh là đại họa chỉ giáng vào đầu dân tộc Việt Nam.
2014 MAR 23 NguyenHuuCau.3002014.APR 8 CHHÀVŨ.300
Khúc Khải Huyền  khủng khiếp nầy chỉ chấp dứt khi vấn nạn Cộng sản Việt Nam không còn nữa !
Apocalypse Đại Thế chiến chỉ vỏn vẹn trên dưới 4 năm 1914-1918 ; Apocalypse Hitler đại họa Đen chỉ từ 1938 đến 1945 ; Apocalypse Đỏ đại nạn Cộng sản Quốc tế gần 100 năm rồi (1917 – 2014) ngày nay vẫn chưa dứt, với cái đuôi Poutin và họa Đại Nga, với cái đuôi  Trung Cộng và họa Đại Hán, với cái đuôi Triều tiên và cái họa do gia đình họ Kim.
Và riêng về Việt Nam ta Đại Nạn Cộng sản do Hồ Chí Minh mang đến, ngày nay vẫn chưa dứt ! Và ngày mai ? Với Trung Cộng hung hãn, với Việt Cộng yếu hèn, họa mất nước chắc cũng gần kề … 
Phan Văn Song  
Hồi Nhơn Sơn , những ngày dưởng bệnh,Viết cho tháng Tư đen
Kỳ 2 : Những lịch sử dân tộc đang được viết lại.

Trúc Giang: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng

Trúc Giang: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng

VTT ZZMAY 11 Đồng bằng  sông Mékong2016 APR 2 MEKONG DISASTER

1. Mở bài
“Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng” là do một tay Trung Quốc tạo ra. Dùng Mekong làm vũ khí nước để khống chế đảng Cộng Sản Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Trung Cộng không hề từ bỏ một thủ đoạn nham hiểm nào để chế ngự CSVN cả. Cho dù có muốn “Thoát Trung” đi nữa thì cũng không bao giờ làm được, bởi vì truyền thống làm tay sai bán nước của đảng CSVN đã đặt VN lệ thuộc toàn diện vào Trung Cộng. Từ chính trị, kinh tế, chiến lược quốc phòng, văn hóa, giáo dục…tất cả đều lệ thuộc vào Trung Cộng.
GS-Viện sĩ Benoit de Tréglodé cho rằng những lời phát biểu bằng miệng để phản đối cái nầy, cái nọ, cái kia của đảng CSVN chỉ là tung hỏa mù để che giấu sự lệ thuộc vào Trung Quốc mà thôi.
Cửu Long hấp hối người dân ngất ngư cũng là do quan thầy Tàu khựa của đảng CSVN tạo ra mà thôi. Nhận giặc làm cha là thế.
2. Việt Nam kêu gọi sự hỗ trợ khẩn cấp của quốc tế
Ngày 14-3-2016, trong buổi họp của Ủy Hội sông Mekong (MRC=Mekong River Commission) tại Hà Nội, Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, ông Cao Đức Phát kêu gọi sự hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp của quốc tế để ứng phó với tình trạng khô hạn và nhiễm mặn đang ở mức độ khốc liệt nhất và đang tiếp tục gây quá nhiều thiệt hại cho nông dân miền Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long.
Hạn hán kéo dài dẫn đến nhập mặn tác động nghiêm trọng đến sản xuất làm cho hàng triệu người dân bị ảnh hưởng.
Nếu không có sự trợ giúp từ bên ngoài thì khó phục hồi để vực dậy nền kinh tế.
Ông Bộ Trưởng cho biết, dự báo cho thấy mức độ nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ lên đến đỉnh điểm trong ba tháng: 4, 5 và 6 năm 2016.
Hiện tại, các hồ nước tại ĐBSCL đã trơ đáy. Nước ở các giếng cũng cạn kiệt.
TS Dương Văn Ni, Đại học Cần Thơ, cũng nhìn nhận nhiễm mặn và hạn hán tại vùng đất nầy đã tới mức trầm trọng. Cũng có dấu hiệu lượng mưa sẽ giảm đến mức đáng lo ngại.
Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về Viêt Nam cũng giảm 50%.
Việt Nam đã làm hết sức mình nhưng cũng đành bó tay nên rất cần sự hỗ trợ của quốc tế.
TS Lê Anh Tuấn, chuyên gia về biến đổi khí hậu ở Đại Học Cần Thơ, phát biểu: ”Nếu Trung Quốc đáp ứng lời kêu gọi của Việt Nam mà xả nước xuống thì đó chỉ là giải pháp cứu nguy cấp thời chớ không phải là chiến lược lâu dài”.
3. Những thảm cảnh của đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long
3.1. Đốt lúa tế trời
Ngày 18-3-2016, bà Đặng Thị Cúc (61 tuổi) ở thị trấn Gò Quao, ấp Vĩnh Tân, xã Vĩnh Thắng cho biết, 5 công lúa (5,000m2) vụ đông xuân đang trổ bông thì bị mặn vào làm lép gần hết.
Gia đình quyết định đốt lúa, cải tạo đất đợi mùa mưa tới sẽ xạ lúa trở lại.
3.2. Những đơn vị đo lường miền Nam
1 mẫu hay 1 hecta (ha) =10,000m2
1 mẫu = 10 sào=10 công.
1 công=1,000m2 (ở Nam Bộ).
1 giạ lúa=20 lít. Người ta đong lúa bằng thùng 20 lít. Mỗi thùng là 1 giạ.
Mỗi thùng lúa nặng từ 20kg đến 22 kg. Tùy theo lúa chắc hột, độ ẩm, phơi khô quạt sạch.
3.3. Rơi nước mắt bỏ 50 công lúa
1). Chị Đặng Thị Út Nhờ có hơn 50 công lúa. Thấy ruộng khô nên bơm nước vào, không ngờ nước bị nhiễm mặn. Toàn bộ toàn là hột lép nên phải gạt nước mắt bỏ đi.
2). Chị Nhan Thị Đà mất toi 10 công lúa. “Lúa chết hết rồi. Bao nhiêu công sức, tiền bạc đổ vào mảnh ruộng nầy bây giờ trắng tay lại còn mang nợ. Đứa con học ở Sài Gòn gọi điện về xin tiền đóng học phí. Nhà hết tiền, con hết học”.
3). Cho thuê 70 công đất mà không thu được giạ lúa nào cả
Bà Huỳnh thị Thảo cho thuê 70 công đất, mỗi công thu được 15 giạ (15 thùng 20 lit). Mỗi năm có hơn 1,000 giạ, nhưng năm nay bị hạn, mặn nên những người thuê trắng tay không trả bà giạ lúa nào cả.
3.4. Ứa nước mắt vớt hàng chục tấn hàu tiền tỷ đem đi tiêu hủy
Bãi xác hàu ngày càng dày thêm đồng nghĩa với đói nghèo, nợ nần bủa vây người dân nơi đây
Ở xã Thừa Đức, huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre có hơn 150 hộ dân sống bằng nghề nuôi hàu (loại nghêu sò) trên 36 hecta mặt nước.
Sau cơn nước mặn tràn vào ngày 15-1-2016 người dân chết đứng khi chứng kiến hàng trăm tấn hàu tiền tỷ phải vớt đem đi bỏ. Hơn 90% lượng hàu đã chết trong con nước mặn nầy.
Bà Nguyễn Thị Trường * Những con hàu gần đến ngày thu hoạch đem tiền tỷ về cho người dân
Cụ bà Nguyễn Thị Trường cho biết: “ Bao nhiêu công sức chăm nuôi hơn một năm trời bây giờ phải đổ sông đổ biển. Tôi chẳng còn muốn sống nữa”.
Chị Tư Hồng, một người nuôi hàu, cho biết, sau hơn một năm chăm sóc tôi định gọi thương lái đến mua với giá 26,000$/kg hàu, nhưng bây giờ không còn kịp nữa. Nếu hàu không chết thì gia đình tôi sẽ được lời trên 300 triệu đồng.
Hàng chục tấn hàu được đưa vào bờ mỗi ngày để đem đi tiêu hủy. Bãi xác hàu mỗi ngày càng dầy thêm, đồng nghĩa với nợ nần, nghèo đói bủa vây người dân ở đây.
3.5. Người dân thiếu nước ngọt để uống
1). Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long thiếu nước uống. Ở Kiên Giang phải “đổi” nước để uống và sinh hoạt. (Cử tiếng “mua, bán” nước). Giá mỗi lu 700 lít từ 35,000$ đến 40,000$. Mỗi tháng, một người dùng ít nhất là 4 lu nước (2,800 lít).
Có khi hết nước mà không đổi kịp thì chạy sang hàng xóm mượn nước về xài đỡ.
2). Người dân Bến Tre mua nước với giá cắt cổ
Ngoài những thiệt hại về lúa, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi…người dân ở ĐBSCL còn chịu ảnh hưởng nặng nề vì thiếu nước ngọt, nước sạch.
Ở Hà Nội nước sạch giá 5,000$/m3 nhưng ở Bến Tre giá từ 60,000$ đến 80,000$/m3.
Các trường học, khách sạn, bịnh viện cũng không có nước ngọt, nhiều nơi phải dùng nước mặn loãng làm nước sinh hoạt.
Ao hồ, sông rạch Bến Tre cũng bị nhiễm mặn vì nước biển đã xâm nhập vào nội địa 80km.
Trước kia muốn đi tắm biển thì phải ra Vũng Tàu, bây giờ chỉ cần nhảy xuống con rạch trước nhà là đã thưởng thức được vị mặn của nước biển.
4. Thiệt hại của đồng bằng sông Cửu Long
1). Thiệt hại tổng quát
Theo số liệu tính tới ngày 27-3-2016 thì có gần 380,000 hộ dân bị ảnh hưởng. Có khoảng 313,000 hecta lúa, hoa màu, cây ăn trái, và nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại. Ước tính thiệt hại xấp xỉ 3,000 tỷ đồng.
Trong khi đó, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, mùa mưa năm nay sẽ đến muộn nên lượng nước trên hệ thống sông ngòi toàn quốc Việt Nam sẽ bị sụt giảm đáng kể.
2). Thiệt hại của tác động kép
Tác động kép là khô hạn và nhiễm mặn. Dòng sông cạn kiệt tạo ra hạn hán và làm cho vùng đất bao quanh con sông nhập mặn. Cả hai tình trạng đều gây thiệt hại cho cây lúa, hoa màu và chăn nuôi, thủy sản.
Cả một hệ thống dẫn nước từ sông cái đến khu vực chung quanh như kinh, rạch, ao, hồ, mương, rảnh, đầm, đìa, bàu…làm cho khu vực bị nhiễm mặn khi nước biển tràn vào các cửa sông.
5. “Không nên đua trồng lúa bằng mọi giá”
GS Võ Tòng Xuân tuyên bố như thế. Ông đưa ra chương trình lúa-tôm. Mùa mưa trồng lúa nước ngọt, mùa khô hạn nuôi tôm nước mặn.
Chương trình nầy không thể thực hiện được vì nước ngọt, nước mặn không thể điều hòa thường xuyên từ năm nầy qua năm khác được. Con nước bị tác động bởi sức hút của mặt trăng và của thời tiết thay đổi. Nước ngọt, nước mặn cũng không cố định theo từng mùa được.
Hơn nữa Trung Quốc chủ động trong việc điều khiển dòng nước trên sông Mekong. Họ có quyền xả nước để cứu hạn ở hạ nguồn, có quyền khóa nước theo ý muốn. Có khả năng điều khiển dòng nước chỉ để tác động vào Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, có nghĩa là muốn hạn hán hay ngập mặn tùy ý.
Mùa khô đất đai hấp thụ độ mặn của nước biển. Tuy nhiên, không phải khi nước mặn rút đi là đất đai hết nhiễm mặn liền ngay khi đó. Nước mặn đã theo hệ thống dẫn nước từ kinh rạch, ao hồ, mương, cống rảnh…đã thấm thấu vào lòng đất mà cần phải có một thời gian dài để giải mặn.
Chương trình lúa-tôm khó thực hiện.
6. “Phải lớn tiếng kêu gọi quốc tế vào”
“Phải lớn tiếng kêu gọi quốc tế vào, chớ không phải mỗi lần thiếu nước thì phải đi lạy họ để họ xả nước cho hay sao?”
TS Đinh Xuân Quân, chuyên gia kinh tế và nông nghiệp, xác nhận: “Hạn và mặn ở ĐBSCL không hoàn toàn do thiên tai mà là do những cái đập của Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mekong. Việt Nam cho rằng đó là thiếu nước, nhưng không phải như vậy. Vấn đề lớn hơn nhiều vì nó dính líu tới Trung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia. Do đó phải lớn tiếng kêu gọi quốc tế vào, chớ không phải mỗi lần thiếu nước thì phải đi lạy họ để họ xả nước cho.”
TS Quân nói tiếp: “Hồi năm 2011, Thượng Viện Mỹ đã thông qua Nghị Quyết 227 về sông Mekong trong đó kêu gọi chính phủ Mỹ tham gia giúp đỡ sông Mekong.
Đây là lúc Việt Nam kêu gọi Hoa Kỳ và quốc tế giúp đỡ để cứu vựa lúa ở ĐBSCL
Việt Nam và Campuchia là hai nước bị thiệt hại nhiều nhất nên cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau hơn là mạnh ai nấy làm”. (Hết trích)
Giải pháp “lớn tiếng kêu gọi” của ông TS nầy chỉ làm khan cổ, mỏi miệng của Đảng và Nhà nước CSVN, mà chưa chắc họ dám kêu gọi Mỹ. Đó không phải là giải pháp có thể thực hiện vì nó liên quan đến vấn đề chính trị và cũng không phải là việc cứu trợ nhân đạo của thiên tai bình thường, tức là cứu trợ một lần rồi thôi.
Muốn Mỹ nhảy vào cứu ĐBSCL thì Việt Nam phải trả cho Mỹ cái gì mới được. Thế nhưng tại sao phải nhờ đến người ngoài? Việt Nam đã được chấp thuận cho vào làm một khu tự trị của các sắc tộc thuộc chính quyền TW ở Bắc Kinh từ ngày 4-9-1990 tại Thành Đồ rồi. Chính ông Tổng Trọng cũng cam kết dứt khoát phải chính sách nhất quán mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã cam kết với Mao chủ tịch năm xưa.
Việt Cộng coi Trung Cộng vừa là quan thầy, vừa là đồng chí vừa là anh em, môi hở răng lạnh. Hợp tác chiến lược toàn diện, hội nhập hoàn toàn trên tình nghĩa 4 tốt và 16 chữ vàng.
“Bên nây biên giới là nhà
Bên kia biên giới cũng là quê hương”. (Văn nô Tố Hữu)…..
Vậy thì, vì sao phải đi cầu Mỹ?
Nguyễn Tấn Dũng cũng bày tỏ lòng trung thành: “Nhân dân Việt Nam luôn luôn nhớ ơn sự giúp đỡ vô giá của đảng và nhân dân Trung Quốc, cho cuộc chiến tranh giải phóng đất nước trong quá khứ, và sự giúp đỡ phát triển kinh tế và xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay”. Người Việt Nam khi nhớ ơn thì phải trả ơn.
7. Lào và Trung Quốc xả nước không có hiệu quả nào cả
7.1. Lào xả nước không có hiệu quả nào cả.
Ngày 26-3-2016, Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói Lào sẽ xả nước ở một số đập thủy điện để giúp Việt Nam chống hạn hán và nhiễm mặn ở đồng bằng sông Cửu Long.
Bộ Trưởng Năng Lượng Lào, ông Khammany Inthirath cho biết, từ 23-3-2016 đến cuối tháng 5 năm 2016, Lào sẽ xả 1,136m3/s.
Trước đó, Trung Quốc cho biết sẽ xả 2,190m3/s nước từ đập Cảnh Hồng (Jinghong dam) từ 15-3-2016 đến 10-4-2016. Như vậy hai quốc gia nầy sẽ xả 3,611m3/s.
Các nhà quan sát cho rằng đó chỉ là đòn chính trị chớ thật ra không có hiệu quả gì. Số lượng nước nầy khi đến Việt Nam thì chỉ còn 1/5 mà thôi, vì bị chặn ở các con đập của Thái Lan và Cam Bốt.
Ông Lê Anh Tuấn, Phó Viện Trưởng Viên Nghiên cứu Biến Đổi Khí hậu tại Đại học Cần Thơ, trả lời phỏng vấn đài BBC: “Lượng nước xả như vậy, khi đến ĐBSCL thì không còn bao nhiêu. Cần phải có 10,000m3 /giây mới có hiệu quả. Chớ còn 3,611m3/s thì không ăn nhằm gì cả”.
7.2. Trung Quốc xả nước chỉ là một thủ đoạn chính trị
1). Việt Nam xin Trung Quốc xả nước
Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã liên hệ với Trung Quốc và Lào, đề nghị xả nước cứu hạn mặn cho vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Việt Nam đề nghị xả 2,890m3 mỗi giây trong thời hạn 134 ngày.
2) Trung Quốc xả nước cũng như không
Ngày 25-3-2016, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao TQ, ông Lục Khảng cho biết theo yêu cầu của Việt Nam, Trung Quốc sẽ xả 2,190m3/s từ đập Cảnh Hồng để giúp VN chống hạn, mặn.
Ông Montree Chantawong, chuyên gia nghiên cứu về phục hồi sinh thái Thái Lan, cho biết: “Nhìn lại mực nước sông Mekong từ tháng 1 đến tháng 4 trong 2 năm 2014 và 2015 thì lúc nào mực nước cũng ở 2,000m3/s. Thế nhưng TQ xả 2,190m3/s thì không có khác biệt nào cả”.
3). Củ cà rốt Trung Quốc với các nước sông Mekong
Ngày 23-3-2016, Hội Nghị Cấp cao Hợp tác Mekong-Lan Thương diễn ra ở Tam Á, Hải Nam (TQ) với sự tham dự của các nước: Cam Bốt, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc.
Chủ đề: “Cùng chung dòng sông, cùng chung tương lai”.
Thủ Tướng Lý Khắc Cường tuyên bố, Trung Quốc sẽ cho vay ưu đãi 1.5 tỷ USD cho 5 nước có dòng sông Mekong chảy qua.
Các nhà quan sát cho rằng chủ trương nầy nằm trong chiến lược “Một vành đại, một con đường”. Đó là “Con đường Tơ lụa Thế kỷ 21” của TQ.
Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ Tướng Phạm Bình Minh có cuộc gặp riêng với Lý Khắc Cường mà báo chí cho biết, Phạm Bình Minh khẳng định “Việt Nam luôn luôn coi trọng láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc trên cơ ở của phương chăm “4 tốt và 16 chữ vàng”.
“Bốn tốt và 16 chữ vàng” là chương trình 30 năm để VN sát nhập vào đại gia đình các dân tộc của khu tự trị thuộc chính quyền Trung Ương ở Bắc Kinh. Đó là thỉnh nguyện của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng tại Hội Nghị Thành Đô ngày 4-9-1990.
Một người sử dụng mạng tên Tiến Lê viết: “Đoàn kết hữu nghị hai nước mà sao mấy anh lấy hết đảo của chúng tôi? Xây sân bay rồi đâm chìm tàu cá của đồng bào tôi là sao…?
8. Sông Mekong
8.1. Nguồn gốc
Dãy Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn) nằm giữa biên giới 5 nước là TQ, Ấn Độ, Pakistan, Nepal và Bhutan, có trên 100 ngọn núi cao trên 7,000 mét, trong đó có ngọn Everest cao nhất thế giới là 8,848 mét. Một tảng băng khổng lồ bao phủ quanh năm trên hàng trăm ngọn núi đó. Khi nhiệt độ tăng, băng tan chảy thành nước, theo hàng ngàn khe núi từ trên đỉnh chảy xuống chân núi.
Chân núi phía TQ là một cao nguyên cao trên 4,000 mét thuộc tỉnh Thanh Hải.
Nước từ các đỉnh núi chảy xuống, tích tụ vào một cái hồ to lớn trên cao nguyên. Đặc tính của nước là chảy từ chỗ cao xuống chỗ thấp. Do đó, nguồn nước nầy chảy qua cao nguyên Tây Tạng, xuống tỉnh Vân Nam, qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, qua đồng bằng Nam Bộ rồi chảy ra Biển Đông. Đó là sông Mekong.
Chiều dài sông Mekong là 4,200km (có tài liệu 4,880 km).
Phần Mekong trong lãnh thổ Trung Quốc gọi là sông Lan Thương (Lancang River), phần ở Lào và Thái Lan được gọi là Mae Nam Khong (Sông Mẹ), người Campuchia gọi là Mékongk hay Tông-lê Thơm và VN thì gọi là sông Cửu Long vì nó chảy ra Biển Đông bằng 9 cửa sông, 9 con rồng.
8.2. Sông Cửu Long
1). Chín con rồng
Bắt đầu từ thủ đô Phnom Penh của Campuchia, sông Mekong chia làm 2 nhánh chảy vào đồng bằng Nam bộ. (Đồng bằng sông Cửu Long) Đó là Sông Tiền và Sông Hậu, dài chừng 250 Km.
Việt Nam gọi là sông Cửu Long vì nó chảy ra biển bằng 9 cửa, xem như 9 con rồng. Cửa Đại, cửa Tiểu, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Ba Lai, cửa Định An, cửa Tranh Đề và cửa Ba Thắc (Bassac). Khoảng thập niên 1970, cửa Bassac bị đất bồi lấp lại, nên Cửu Long còn 8 cửa chảy ra biển.
2). Tài nguyên của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Đồng bằng sông Cửu Long trước khi có những con đập thượng nguồn
Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa của VN. Những cánh đồng lúa bao la bát ngát ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang, sản lượng lúa gạo chiếm 50% so với cả nước.
VN là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ nhì trên thế giới, sau Thái Lan và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những nước sản xuất gạo nhiều nhất trong năm 2008 như là Trung Quốc 193 triệu tấn, Ấn Độ 148 triệu tấn, Indonesia 60 triệu tấn, VN 39 triệu tấn, Thái Lan và Miến Điện là 30.5 triệu tấn.
Ngoài ra, còn có những loại cây như mía đường, dừa, xoài, sầu riêng, cam, quít, bưởi và nhiều loại cây ăn trái khác.
Chăn nuôi cũng phát triển như nuôi vịt, trâu bò. Vịt được nuôi từng đàn lớn nhiều nhất là ở Bạc Liêu, Cà Mau, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng.
Kiên Giang là tỉnh săn bắt thủy sản nhiều nhất, 80,000 tấn/ năm. Nghề nuôi tôm xuất khẩu cũng phát triển mạnh.
9. Ủy Hội Sông Mekong
Ủy Hội Sông Mekong (MRC=Mekong River Commission) là một cơ quan liên chính phủ nhằm phối hợp việc quản lý và kế hoạch phát triển tài nguyên về nước của sông Mekong.
4 thành viên của Ủy Hội là Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Tại mỗi quốc gia có một Ủy Ban sông Mekong quốc gia. Trung Quốc không tham gia Ủy Hội sông Mekong nên không bị chi phối bởi Ủy Hội nầy.
MRC thành lập năm 1957. Giám đốc điều hành hiện thời là Jeremy Bird. Trụ sở đặt tại thủ đô Lào là Vientiane.
10. Những con đập trên sông Mekong
Trên thượng nguồn sông Mekong có 12 con đập, trong đó 5 con đập gây tác hại nhiều nhất cho hạ nguồn gồm 3 đập ở Trung Quốc và 2 đập ở Lào.
10.1. Ba đập ở Trung Quốc
Đập Cảnh Hồng Đập Tiểu Loan
1). Đập Tiểu Loan (Xiaowan Dam).
Cao nhất thế giới, 292m. Diện tích 190km2. Sức chứa 15,000m3 nước. Chi phí 3.9 tỷ USD.
2). Đập Nouzhadu (Nọa Trát Độ).
Được mệnh danh là con khủng long trên sông Mekong. Khởi công xây 2006. Giải tỏa 24,000 cư dân. Hồ chứa dài 226km. Diện tích 320km2 (Gần bằng phân nửa diện tích nước Singapore, 716km2). Hồ chứa 22 tỷ m3 nước.
Phải cần 10 năm để chứa đủ số lượng nước cao 348m và 205m ở hai con đập nầy.
3). Đập Cảnh Hồng (Jinghong Dam)
Cảnh Hồng là con đập nhỏ, cao 108m, dài 705m. Diện tích hồ chứa nước 510km2, Dung tích 249 triệu m3 nước. Chi phí 1.76 tỷ USD. Cảnh Hồng phía nam Trung Quốc, giáp giới Lào.
10.2. Hai con đập ở Lào
Đập Xayaburi ở bắc Lào Đập Don Sahong
1). Đập Xayaburi ở bắc Lào
Dài 810m. Cao 32m. Diện tích 49km2. Dung tích 1.3km3. Công suất máy phát điện 1,285MW.
Chủ sở hữu là công ty Ch. Karnchang Public Company. Vốn Thái Lan là 3.5 tỷ USD. Sẽ bán 95% số lượng điện cho Thái khi đi vào hoạt động. Lào cho xây con đập để bán điện lấy lời.
2). Đập Don Sahong ở Nam Lào, cách biên giới Cam Bốt 2km. Don Sahong là con đập nhỏ, cao 30m, rộng 100m, dài 5km nhưng được xem là tử huyệt của toàn bộ hệ sinh thái ở hạ nguồn Mekong. Nó tác động lớn lao đến vựa cá ở Cam Bốt.
Trung Quốc đứng đàng sau hai con đập nầy. Trên danh nghĩa thì công ty Mả Lai đứng ra thực hiện, nhưng bên trong chính là công ty Sinohydro International là một tổ hợp của nhà nước Trung Quốc.
Việt Nam đã từng phản đối và đề nghị đình hoãn 10 năm để nghiên cứu, nhưng được Trung Quốc chống lưng nên Lào phớt lờ yêu cầu của người đồng chí đàn anh của đảng Cộng Sản Lào.
11. Những đồng thuận giữa lãnh đạo hai đảng CSVN và CSTQ
Trung Quốc luôn luôn nhắc nhở và kêu gọi đảng CSVN phải thực hiện những đồng thuận của lãnh đạo hai đảng, vậy những đồng thuận đó là gì?
1.Đó là công hàm bán nước của Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về chủ quyền của Trung Cộng.
2.Đó là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng thỉnh cầu cho VN được chấp thuận cho làm một khu tự trị của TQ, ngày 4-9-1990 tại Thành Đô, Tứ Xuyên. Thỉnh nguyện được chấp thuận và Trung Quốc cho thời gian 30 năm (1990-2020) để đảng CSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc. Chương trình mang tên là 4 tốt và 16 chữ vàng.
Biên bản buổi họp. “Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng Chủ Nghĩa Cộng Sản, đảng Cộng Sản và nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam sẽ cố hết sức mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công xây đắp trong quá khứ. Và Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền Trung Ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng, Quảng Tây”.
12. Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện những đồng thuận như sau.
12.1. Lê Khả Phiêu cắt đất dâng biển cho Trung Cộng.
Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng công nhận HS/TS là của Trung Cộng cho nên Lê Khả Phiêu ký Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất Liền ngày 30-12-1999 “dâng trả” Ải Nam Quan và Thác Bản Giốc diện tích 178km2, và Hiệp Ước Phân Định Lãnh Hải ngày 25-12-2000 giao trả 16,000km2 vùng biển Vịnh Bắc Bộ.
Hai hiệp ước được ký nhân vụ Lê Khả Phiêu bị sập bẫy mỹ nhân kế của cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) năm 1988. Đó gọi là “Sướng con koo mù con mắt”.
12.2. Lê Đức Anh dâng trả 6 đảo Trường Sa.
“Ra trận không được nổ súng”. Lê Đức Anh giao trả đảo Gạc Ma và 5 đảo khác ở Trường Sa ngày 14-3-1988, bằng một màn kịch đánh cuội “Ra trận không được nổ súng”. Vụ bán nước vĩ đại nhất lịch sử vì nó còn tác hại nghiêm trọng đến ngày nay. Đảng CSVN đã rước giặc vào nhà.
Chính Thiếu tướng Việt Cộng Lê Mã Lương tung lên Youtube ngày 14-6-2014. Xem: (https://www.youtube.com/watch?v=uS5fmvKoCeg&feature=player_embedded)
12.3. Bí mật về “16 chữ vàng”
Trung Cộng khởi tạo phương châm 16 chữ vàng.
Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng được ký vào tháng 2 năm 1999.
Tiếp tục thúc đẩy tiến trình bí mật 30 năm Thành Đô, Giang Trạch Dân đưa ra chiêu bài để ngụy trang là phương châm 16 chữ vàng. Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu nhất trí ngay và cam kết luôn luôn thực hiện với quyết tâm cao độ để hoàn thành “đại cuộc” đó.
Thế là phương châm 16 chữ vàng ra đời từ đó. Bản tuyên bố chung về 16 chữ vàng chính thức được Giang Trạch Dân và Lê Khả Phiêu ký vào tháng 2 năm 1999.
16 chữ vàng:
Láng giềng hữu nghị (mục lân hữu hảo), hợp tác toàn diện (Toàn diện hợp tác), ổn định lâu dài (Trường kỳ ổn định), hướng tới tương lai (Diện hướng vị lai).
Trung Cộng cho biết con đường hợp nhất của hai nước vô cùng thuận lợi vì đó là những đặc thù về địa lý tự nhiên, chế độ chính trị, văn hoá, xã hội và vận mệnh của hai dân tộc, của hai đảng được xem như một.
“Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”. Vì thế sát nhập là hợp lý hợp tình.
Tháng 11 năm 2000 khi tân Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang diện kiến thì Giang Trạch Dân nhắc đến và nhấn mạnh, phương châm 16 chữ vàng là cái khung chỉ đạo căn bản và nhất quán để Việt Nam phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Cũng giống như những người tiền nhiệm, Nông Đức Mạnh hạ quyết tâm thực hiện nội dung của 16 chữ vàng.
Tóm lại 16 chữ vàng là ngụy trang của chương trình 30 năm thực hiện để hoàn tất VN trở thành khu vực tự trị của Trung Cộng.
12.4. Ba đồng thuận của đảng Cộng Sản Việt Nam
Ngày 25-6-2011, Thứ trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của đảng CSVN đã ký với Đái Bỉnh Quốc 3 đồng thuận như sau:
1.Đồng thuận giải quyết tranh chấp song phương về Biển Đông
2.Đồng thuận thi hành định hướng dư luận: “Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn chặn những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước.”
3.Đồng thuận công nhận công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, công nhận Hoàng Sa/TS là của TQ.
Trích như sau: “Những hồ sơ lịch sử của TQ cho thấy rằng năm 1958 chính phủ Trung Quốc đã khẳng định các hòn đảo trên biển Hoa Nam là những bộ phận thuộc về lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc, và kế đó thủ tướng VN Phạm Văn Đồng đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao của mình, gởi cho thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai”.
12.5. Đi phải thưa về phải trình
Lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam phải qua Tàu trước khi đi Mỹ
Một sự thật hiển nhiên là các lãnh đạo đảng CSVN đều phải qua trình diện quan thầy Tàu khựa trước khi đi Mỹ.
1. Nguyễn Minh Triết
Qua Tàu ngày 16-5-2007. Qua Mỹ ngày 22-6-2007.
2. Trương Tấn Sang
Qua Tàu ngày 19-6-2013. Qua Mỹ ngày 25-7-2013.
3. Phạm Quang Nghị
Qua Tàu ngày 8-9-2013. Qua Mỹ ngày 27-7-2014. Vì có sự tranh giành với Phạm Bình Minh.
4. Phạm Bình Minh
Qua Tàu ngày 12-2-2014. Qua Mỹ ngày 1-10-2014.
5. Nguyễn Phú Trọng
Qua Tàu ngày 7-4-2015. Qua Mỹ ngày 6-7-2015.
12.6. Xây 195 tượng đài Hồ Chí Minh
Để chứng tỏ cho Trung Cộng thấy rằng đảng CSVN luôn luôn thi hành đồng thuận của Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng, đảng CSVN đã có chương trình xây 195 tượng đài Hồ Chí Minh trên toàn quốc.
Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch có Dự án Quy hoạch Hệ thống Tượng đài Hồ Chí Minh trên toàn quốc. Hiện tại đã có 137 tượng đài và còn 58 cái nữa sẽ hoàn tất trước năm 2030. Thành phố Sài Gòn còn 14 cái sẽ được xây thêm. Nhà nước VN cũng đặt ngoại quốc làm thêm 6 cái tượng nữa ở các nước Cuba, Hungary, Ấn Độ, Pháp và Madagascar.
Tượng Hồ Chí Minh cao từ 4m đến 9m. Một tượng gây chú ý nhất là ở một tỉnh nghèo như Sơn La mà bỏ ra 1,400 tỷ đồng (Gần 70 triệu USD) để xây hình HCM.
GS Ngô Bảo Châu, người điềm đạm nhất mà cũng phải lên tiếng gay gắt: “Trẻ em ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm, sinh hoạt như lũ thú hoang mà bỏ ra 1,400 tỷ để xây tượng đài, thì hoặc là khốn nạn hoặc là thần kinh”. (Facebook)
GS Nguyễn Văn Tuấn tại Úc cho biết: “Có thể nói rằng những công trình tượng đài tại VN ngày nay, dưới cái nhìn của người bình thường thì nó rất thô kệch, xa lạ, vô hồn, phi dân tộc và lai căng”.
12.7. Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm đã bắt đầu từ lâu rồi.
Ngoài ra còn hàng chục thứ chứng tỏ đảng CSVN đã đưa đất nước vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Đó là cờ 6 ngôi sao, bauxite Tây nguyên, làm lễ 1,000 năm Thăng Long kéo dài 10 ngày để ăn mừng ngày quốc khánh của bọn Tàu khựa. Thành lập Viện Khổng Tử trong khi VN đã có rất nhiều Khổng Miếu. Cho phép người Tàu di dân thả cửa vào Việt Nam. Trong 65 khu chế xuất, khu công nghiệp, không nơi nào vắng bóng người Hoa cả. Những người di dân tạo lập thành những khu riêng biệt của người Hoa mà chính quyền Việt Nam không được vào đó để kiểm soát. Chúng chiếm đóng các vị trí chiến lược, thuê đất 306,000 hecta rừng đầu nguồn trong 50 năm với giá rẻ mạt ở biên giới phía Bắc. Nông Đức Mạnh tự nhận mình là người dân tộc Choang của Trung Quốc cho biết: “Đất rừng Việt Nam chưa dùng tới thì cho người khác thuê thì có sao đâu?”.
Ngoài ra, đảng CS và nhà nước Việt Nam, ưu tiên để 4 tỉnh phía Nam Trung Quốc, như Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam được hưởng đặc quyền khai thác toàn diện trên 7 tỉnh biên giới của Việt Nam, như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Người Trung Quốc được hưởng qui chế “bất xâm phạm” từ khi có mặt tại Việt Nam để thi hành công tác khai thác toàn diện trên lưng người Việt Nam.
Năm 2009, tỉnh Hải Nam và Việt Nam nhất trí hợp tác toàn diện về chiến lược quân sự. (Tại sao một quốc gia lại phải hợp tác với một tỉnh của quốc gia khác?)
Một bài viết có tựa đề “Phố người Hoa, Rừng người Hoa, sòng bạc người Hoa,…và người Hoa” còn đưa ra quan ngại rằng “trong một tương lai không xa, con cháu người VN sẽ trở thành sắc tộc thiểu số và không còn được sống trên quê hương của mình nữa”.
Các công ty Trung Quốc luôn luôn trúng thầu trọn gói, Hợp đồng thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình EPC (Engineering Procurement and Construction)
Các cơ quan trong chính phủ VN phải lập đường dây và quan hệ với những cơ quan đối tác trong chính phủ Trung Quốc để thúc đẩy quan hệ song phương và hội nhập toàn diện.
12.8. Đừng có chờ đợi thái độ chống Trung Quốc từ nhà cầm quyền Việt Nam
TS-Viện sĩ Benoit de Tréglodé, một chuyên gia uyên thâm về Châu Á, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á Hiện đại (Institut de Recherche de lAsie du Sud-Est Contemporain) cho biết: “Những lời trách móc Trung Quốc bằng miệng có vẻ gay cấn của chính quyền Việt Nam thật ra chỉ để gây hỏa mù. Đừng có chờ đợi thái độ chống Trung Quốc từ giới cầm quyền Việt Nam hiện nay”.
Luật Quốc tế không có nói hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về quốc gia nào cả. Hồ Chí Minh-Phạm Văn Đồng đã công nhận hai quần đảo đó thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc. Tranh chấp chủ quyền là công việc riêng của hai nước cho nên Trung Quốc luôn luôn đòi phải giải quyết song phương và đảng CSVN cũng luôn luôn đồng thuận giải pháp song phương.
Trung Cộng đã gởi công hàm ngày 14-8-1958 và những tuyên bố, những tài liệu mà CSVN đã công nhận HS/TS là của Trung Quốc đến ông Tổng Thư Ký LHQ, yêu cầu phổ biến đến 193 thành viên của tổ chức nầy để làm bằng chứng.
12.9. Ngả theo Trung Quốc để được yên thân là giải pháp đầu hàng, chủ bại, thực chất là bán nước.
Nhà báo Bùi Tín trích lời của Trung tướng Đặng Quốc Bảo, Hiệu trưởng Trường Kỹ Thuật Quân Đội và Trưởng Ban Khoa Giáo Trung Ương như sau: “Trung Quốc lòng tham vô độ, không khéo ta sẽ từng bước trở thành một bộ phận của Trung Quốc. Nói rằng phải ngả theo Trung Quốc để được yên thân, đó là chủ nghĩa đầu hàng, chủ bại. Ngả theo TQ thực chất là bán nước”. (Dân Làm báo tháng 5/2013)
Hiện có 14 quốc gia láng giềng của Trung Quốc, có biên giới chung với nước nầy là: Nga, Afghanistan, Bhutan, Ấn Độ, Lào, Kazakhstan, Mông Cổ, Myanmar, Nepal, Pakistan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Bắc Hàn và Việt Nam. Ngay cả Đài Loan và Hongkong thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc nhưng không có nước nào luôn luôn bợ đít, nâng bi Trung Quốc như Việt Nam đã làm cả.
Ngày 1-4-2016, ông Lê Văn Lai, đại biểu tỉnh Quảng Nam phát biểu tại Quốc Hội nguyên văn như sau: “Tôi ngạc nhiên khi tất cả báo cáo của Chính phủ và các cơ quan hữu quan đánh giá về biển Đông đều cho rằng đảm bảo chủ quyền, lợi ích quốc gia, trong khi người ta xây sân bay, kéo pháo hạm, đưa máy bay tiêm kích, o ép ngư dân, người ta sắp tuyên bố những điều xâm phạm chủ quyền như dùng các chuyến bay cắt ngang các chuyến bay truyền thống được quốc tế công nhận.”
Kết luận
Trung Cộng dùng vũ khí nước để khống chế, không cho VN “Thoát Trung”. Truyền thống bán nước của đảng CSVN khiến cho có muốn Thoát Trung cũng không được.
Ông Bùi Tín phát biểu: “Quốc Hội Việt Nam chưa bao giờ dám lên tiếng phản đối hoặc ra một nghị quyết lên án Trung Quốc cả. Một Quốc hội bán nước, một Bộ Chính trị bán nước, một chính phủ bán nước để lấy 15 tỷ USD thì còn gì giá trị chính đáng, chính danh trước nhân dân và công luận quốc tế”.
Đảng CSVN là tội đồ của dân tộc. Hãy đối chiếu với di chúc của vua Trần Nhân Tông thì thấy rõ ngay. Nhà vua di chúc: “Cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không để lọt vào tay kẻ khác. Ta để lời nhắn nhũ nầy như là một lời di chúc cho muôn đời con cháu về sau” (Vua Trần Nhân Tông)
“Các vua Hùng có công dựng nước. Đức Trần Hưng Đạo có công giữ nước để bác cháu ta tha hồ bán nước!”. Đó là chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam mà sự thật đã nêu trên không thể chối cãi được.
Trúc Giang
Minnesota ngày 7-4-2016

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh: Cha “giải vây”, con “hội nhập“

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh: Cha “giải vây”, con “hội nhập“

VietTimes -- Nếu ông Nguyễn Cơ Thạch được coi là "kiến trúc sư" của giai đoạn ngoại giao “phá vây” thì ông Phạm Bình Minh (con trai ông Thạch) được xem là biểu tượng của nền ngoại giao Việt Nam thời hội nhập.
Lê Thọ Bình - /
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John KerryPhó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry
Nhà ngoại giao chuyên nghiệp
Tại Đại hội Đảng XII ông Phạm Bình Minh, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao được bầu vào Bộ Chính trị. Như vậy ông đã đảm nhiệm trọng trách (cả về Đảng và Nhà nước) mà 33 năm trước đây cha ông là Nguyễn Cơ Thạch từng đảm nhiệm.
Trong nền chính trị Việt Nam không phải là không có những “cặp đôi” trùng hợp lý thú như vậy. Hai bố con ông Đoàn Trọng Truyến (nhiệm kỳ 1984-1987)- Đoàn Mạnh Giao (1999-2007) đều từng là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
Nguyễn Cơ Thạch tiếp ông I.A. Rogachoc - Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô ngày 27/11/1988
Bố con ông Đoàn Trọng Truyến- Đoàn Mạnh Giao, tuy đều đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nhưng con đường đi lại hoàn toàn khác nhau. Trước khi trở thành Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ông Đoàn Trọng Truyến từng là Đổng lý sự vụ Bộ Kinh tế, Hiệu trưởng Trường Kinh tế Tài chính (nay là Đại học kinh tế quốc dân), Phó Trưởng ban Tài chính Thương nghiệp Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch- Ngân sách Quốc hội, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước.
Còn ông Đoàn Mạnh Giao xuất thân là nhà giáo, Phó chủ nhiệm khoa Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự. Sau đó ông chuyển sang công tác tại Văn phòng Chính phủ.
Trong khi đó hai cha con ông Nguyễn Cơ Thạch- Phạm Bình Minh đều là nhà hoạt động ngoại giao chuyên nghiệp.
Ông Nguyễn Cơ Thạch (phải) đón tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Rolang Duyma
Sau khi tốt nghiệp Học viện Quan hệ Quốc tế (nay là Học viện Ngoại giao) ông Phạm Bình Minh được điều về Vụ Đào tạo, Bộ Ngoại giao. Con đường ngoại giao chuyên nghiệp của ông bắt đầu từ đây. Ông trưởng thành từ Tùy viên Đại sứ quán Việt Nam tại Anh; cán bộ tập sự cấp vụ; Phó Vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế; Đại sứ, Phó Đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên Hợp Quốc; Công sứ, Phó Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ; Quyền Vụ trưởng rồi Vụ trưởng Vụ Các tổ chức Quốc tế; Trưởng đoàn đối thoại về nhân quyền với các nước; Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết BCH TƯ Đảng. Từ tháng 8/2007 đến tháng 1/2009 ông là Thứ trưởng, rồi Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao. Sau đó ông lần lượt đảm nhiệm trọng trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông được bầu vào Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ Nhất BCH TƯ Đảng khóa XII. Ông Phạm Bình Minh từng học thạc sỹ Luật và Ngoại giao tại Trường Fletcher Tuft, Hoa Kỳ.
“Con dòng, cháu giống”
Phạm Bình Minh là con út của ông Nguyễn Cơ Thạch (tức Phạm Văn Cương) và bà Phan Thị Phúc. Hai ông bà có 4 người con. Ông Nguyễn Cơ Thạch là người cha hết sức nghiêm khắc. Ông luôn đòi hỏi các con mình phải tự rèn luyện, phấn đấu để trưởng thành.
Ông Phạm Tuấn Phan, con trai cả của ông Thạch- bà Phúc, từng kể: “Năm 1971- 1972 có lệnh Tổng động viên, tôi được gọi nhập ngũ khi đang học lớp 10, ở tuổi 17. Dù biết tôi sẽ phải vào chiến trường “đỏ lửa” Quảng Trị, nhưng cha tôi không hề can thiệp. Ông cho rằng dù ông có ở cương vị gì đi chăng nữa thì chúng tôi- các con ông cũng phải có nghĩa vụ phụng sự đất nước như bao người khác. Sau ngày 30/4/1975, khi tôi đang học ở Liên Xô, cha tôi có gọi điện sang một lần và hỏi: “Con có muốn chuyển sang học Ngoại giao không?”. Tôi luôn ngưỡng mộ cha mình và công việc ông làm. Tôi cũng muốn được tiếp tục công việc mà ông theo đuổi. Nhưng lúc đó tôi là người của quân đội cử đi học, nghĩ rằng việc mình chuyển ngành có thể làm mất uy tín của cha,  cuối cùng tôi vẫn quyết định ở lại trường Đại học Tổng hợp, dù tôi hiểu cha tôi hằng mong có một người con tiếp nối sự nghiệp của ông. Hai năm sau, em trai tôi, Phạm Bình Minh đã thực hiện được nguyện vọng ấy của cha”.
Còn bà Phan Thị Phúc thì kể: “Năm 1977, khi biết con trai út của chúng tôi thi đỗ vào Trường Đại học Bách khoa Hà Nội với số điểm rất cao, anh Thạch đã tâm sự với con trai: “Bố rất tâm huyết với công tác ngoại giao và thực lòng mong muốn trong 4 đứa có một người sẽ kế nghiệp”.
Đại gia đình ông Phạm Bình Minh
Thế là Phạm Bình Minh trở thành sinh viên của Học viện Quan hệ Quốc tế. Câu chuyện này cũng từng được chính Phó thủ tướng Phạm Bình Minh nhắc lại. Ông bảo: “Tôi luôn biết ơn bố tôi.  Mong muốn của ông đã thôi thúc tôi phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để làm một công việc đầy ý nghĩa”.
Cũng giống như với người con trai cả, ngoài việc chia sẻ với con những kinh nghiệm của mình, ông Nguyễn Cơ Thạch luôn khuyến khích Phạm Bình Minh tinh thần tự lập. Bà Phúc kể: “Khi Minh tốt nghiệp, lời khuyên đầu tiên của nhà tôi cho con là “Nếu cơ quan phân công cho con một công việc khó khăn, phức tạp thì không nên từ chối. Những việc khó sẽ giúp con người ta nhanh trưởng thành hơn”. Việc đầu tiên mà con tôi nhận khi trở thành nhân viên Bộ Ngoại giao là công tác ở tổ nhân quyền”.
Cũng theo bà Phúc thì thuở sinh thời ông Nguyễn Cơ Thạch, mặc dù công việc có lúc hết sức căng thẳng, nhưng ông vẫn luôn cố gắng dành mọi thời gian rảnh đề truyền dạy cho con trai mình những kinh nghiệm nghề nghiệp mà ông có, từ những vấn đề liên quan đến đường lối ngoại giao, kinh nghiệm đàm phán, đến nghệ thuật giao tiếp. “Chồng tôi luôn nói với con trai: “Làm ngoại giao, cái gì không nói được thì không nói, cái gì nói được thì phải nói thẳng, nói đến cùng”- Bà Phúc nhớ lại.
Sẽ là không đúng nếu nói ông Phạm Bình Minh chỉ chịu ảnh hưởng từ cha mình, mà trên thực tế, mẹ ông, mới là người “hun đúc” nên tính cách của ông. Chúng ta hãy nghe bà Phúc  kể: “Chồng tôi thường phải đi công tác, có những chuyến công tác kéo dài cả năm trời, nên việc chăm sóc, dạy dỗ các con ngày nhỏ hầu như do tôi đảm nhiệm. Tôi vẫn dạy con, học để phụng sự đất nước, chứ không chỉ biết đến bản thân mình. Tôi yêu cầu các con đọc “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Nga Oxtrốpxki, tôi thường kể cho các con nghe về tấm gương của những người anh hùng dân tộc”.
Mà chả riêng gì ông Minh. Ông Thạch cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ bà. Bà Phúc từng tháp tùng ông Thạch chu du khắp thế giới, giúp ông tổng hợp và phân tích những thông tin đáng chú ý, mà vì công việc quá bận rộn không phải lúc nào ông cũng nắm hết được. Theo ông Phan Doãn Nam, trợ lý gần như trọn đời của ông Thạch kể lại rằng, ở năm cuối đời mình, có lần ông Nguyễn Cơ Thạch đã trìu mến nắm chặt tay và nói với vợ: “Sự nghiệp của anh có một nửa là của em”.
Cha “giải vây”- con “hội nhập”
Có thể nói giai đoạn ông Nguyễn Cơ Thạch làm Bộ trưởng là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trong lịch sử ngoại giao nước ta thời hiện đại. Với cương vị Bộ trưởng, ông Thạch cũng là nhà ngoại giao chịu nhiều áp lực nhất của Việt Nam. Giai đoạn ấy Việt Nam vừa phải đối mặt với chiến tranh biên giới phía Nam, vừa phải chống chọi với Trung Quốc trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, cấm vận của Mỹ và bị hầu hết các nước trên thế giới cô lập.
Đó cũng là thời kỳ sự bế tắc trong quan hệ của Việt Nam và Trung Quốc lên đến đỉnh điểm. Là Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác đối ngoại, đồng thời đảm nhiệm cương vị Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, mọi quyết sách ngoại giao, mọi gánh nặng trong lĩnh vực đối ngoại đều do ông đảm nhiệm.
Ông Phạm Bình Minh (phải) và Thủ hiến bang Hessen Volker Bouffier (CHLB Đức)
Những chiến dịch chủ động, mạnh mẽ, đấu tranh dồn dập của Ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ông đã góp phần rất quan trọng vào việc giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia (1991), bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (1991), cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á và gia nhập ASEAN (1995), Mỹ bỏ cấm vận (1994) và thiết lập quan hệ Ngoại giao với Việt Nam (1995).
Đại sứ Hoa Kỳ tại LHQ Sullivan đã từng nói: “Tôi luôn nghĩ rằng kỷ nguyên mới trong quan hệ Mỹ-Việt là tượng đài cho những cống hiến của ông Thạch”. Còn nhà ngoại giao Phan Doãn Nam thì viết: “Trong 11 năm làm Bộ trưởng, chính ông đã là người khởi động, đặt nền móng cho những kết quả ngoại giao vô cùng quan trọng. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến ông được coi là “Bộ trưởng giải vây” của ngoại giao Việt Nam”.
Không ở vào giai đoạn bị “bế quan tỏa cảng” như cha mình, nhưng ông Phạm Bình Minh trở thành người đứng đầu ngành ngoại giao ở thời điểm Việt Nam vươn mạnh mẽ ra “biển lớn”. Có thể nói chưa bao giờ ngoại giao và hợp tác quốc tế của Việt Nam lại đạt được những thành tựu lớn lao như vậy.
Khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện đã tạo ra nhiều cơ hội cho tăng cường hợp tác phục vụ phát triển. Việt Nam đã triển khai hiệu quả quan hệ với các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện để phát triển nội lực hình thành những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Thành công này có phần đóng góp rất quan trọng của Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh.
Bà Đại sứ trong cuộc đời ông Minh
Có một sự trùng hợp khá lý thú nữa là, trong sự thành công của ngành ngoại giao Việt Nam nói chung và sư nghiệp của ông Phạm Bình Minh nói riêng luôn có bóng dáng của một nhà ngoại giao nữ- bà Nguyễn Nguyệt Nga- vợ ông. Bà học cùng trường với ông Phạm Bình Minh, cũng có hơn 30 năm làm trong ngành ngoại giao, là nữ Vụ trưởng đầu tiên về kinh tế (Vụ Hợp tác kinh tế đa phương) ở Bộ Ngoại giao, được Chủ tịch nước phong hàm Đại sứ, là quan chức cao cấp của Việt Nam tại Diễn đàn Hợp tác Á- Âu (ASEM), Phó trưởng đoàn đàm phán chính phủ về kinh tế- thương mại, từng là Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ.
Bà Nguyễn Nguyệt Nga - Phu nhân Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh
Công việc của bà và các đồng nghiệp Vụ Hợp tác kinh tế đa phương là tiên phong trong công cuộc hội nhập về chính sách, đem những ASEAN, ASEM, APEC, WTO, TPP và hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) về Việt Nam.
Theo bà Nga thì bà cũng chịu sự ảnh hưởng rất nhiều từ ông Nguyễn Cơ Thạch. Bà nói về người thủ trưởng, đồng thời cũng là bố chồng mình: “Ông là người có phong cách làm việc gần gũi và thiết thực, có nhiều ảnh hưởng đến thế hệ làm ngoại giao kế cận. Tôi đã học hỏi từ ông nhiều điều. Ông thường căn dặn chúng tôi: “Trung thực và chân thành là điều quyết định tạo nên uy tín của một nhà ngoại giao”.
Mặc dù công việc vô cùng bận rộn, nhưng mỗi khi có mặt ở nhà bà Nga tự tay chăm sóc gia đình. Bà bảo, bà thích nấu ăn, trong nhà bà không có người giúp việc. “Giữa gia đình và công việc, tôi xử lý việc gia đình trước. Gia đình chính là nơi tạo nguồn vui để tôi hoàn thành tốt công việc”- Bà Nga từng kể.
Với việc lập quan hệ đối tác chiến lược với Nga năm 2001, Việt Nam là một trong 5 nước tiên phong đầu tiên thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Cho tới nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 13 quốc gia, quan hệ đối tác chiến lược theo lĩnh vực với 2 nước và quan hệ đối tác toàn diện với 11 nước khác. Năm 2013, Việt Nam đã hoàn thành việc xác lập các khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ. Cùng với các mối quan hệ truyền thống, đặc biệt với các nước bạn láng giềng Lào, Campuchia, các nước trong Cộng đồng ASEAN, các khuôn khổ quan hệ này đã góp phần tích cực triển khai hiệu quả quan hệ hợp tác mọi mặt của Việt Nam với các nước trên thế giới.

Tin liên quan