Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Việt Nam: Nhân tố vùng miền và Trung Quốc cản đường thủ tướng Dũng?

Việt Nam: Nhân tố vùng miền và Trung Quốc cản đường thủ tướng Dũng?

mediaÔng Nguyễn Phú Trọng (P) và ông Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội Đảng 12, Hà Nội, ngày 26/01/2016REUTERS
Báo chí, chủ yếu là nước ngoài, trong thời gian qua đã nói nhiều về điều được cho là thất bại của thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong việc giành chức tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam nhân Đại Hội Đảng lần thứ 12 vừa qua. Về nguyên nhân khiến ông Dũng thất bại, trong một bài viết đăng trên tạp chí Nhật Bản Nikkei Asian Review hôm 07/02/2016, tác giả Atsushi Tomiyama đã cho rằng : « Gốc người miền Nam và có lẽ cả Trung Quốc, đã làm tiêu tan các hy vọng của ông Dũng », tựa của bài phân tích. RFI xin giới thiệu.
Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc cách đây 41 năm, nhưng cuộc tranh giành quyền lực gần đây nhất trong ban lãnh đạo đảng Cộng Sản đã cho thấy là sự phân chia Bắc-Nam vẫn còn là một yếu tố trong nền chính trị của Việt Nam. Và đằng sau hậu trường thì có bóng dáng Trung Quốc lẩn khuất, cho dù không tác động trực tiếp, nhưng rõ ràng có can dự vào ván bài này.
Tại Đại hội lần thứ 12 vào ngày 28 tháng Giêng, đảng Cộng Sản đã quyết định giữ ông Nguyễn Phú Trọng lại tiếp tục làm tổng bí thư – chức lãnh đạo hàng đầu của quốc gia – thêm 5 năm nữa.
Ông Trọng, cao tuổi nhất trong ban lãnh đạo cũ của Đảng, là người Hà Nội. Ông đã thành công trong việc ngăn chặn đường tiến của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người từng được xem là một ứng viên nặng ký cho chức tổng bí thư.
Nếu được chỉ định, thì ông Dũng sẽ là tổng bí thư đầu tiên người gốc miền Nam. Khi làm thủ tướng, ông Dũng đã thúc đẩy một loạt các cải cách kinh tế đầy tham vọng, chỉ đạo Việt Nam tham gia Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương và nới lỏng các hạn chế về đầu tư nước ngoài.
Nếu ông Dũng là một biểu tượng cho xu hướng miền Nam trong nền kinh tế, thì ông Trọng là hình ảnh thu nhỏ của đặc thù cộng sản miền Bắc. Đại hội 12 đã nhấn mạnh là miền Bắc vẫn nắm chặt quyền lực chính trị.
Các quan chức cao cấp lo ngại
Ngày 21 tháng Giêng, ngay trước khi Đại Hội Đảng khai mạc, theo tin báo chí, một cựu lãnh đạo cấp cao đã gửi thư điện tử tới ông Trọng.
Theo thư điện tử này, ông Dũng là một loại chính trị gia mà Việt Nam cần. Vị cán bộ Đảng lão thành phàn nàn là không một ai trong số các ứng viên của ban lãnh đạo mới có hiểu biết về kinh tế, và tất cả những người này đều không có lòng dũng cảm đáp trả những yêu sách về lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tuần lễ trước đó, ông Dũng đã bị loại khỏi cuộc đua tranh giành vị trí lãnh đạo Đảng, sau khi không hội đủ phiếu ủng hộ của các đại biểu để trở thành một ủy viên trong Ban Chấp Hành mới. Ban này lựa chọn các ủy viên Bộ Chính Trị trong số các ủy viên; tổng bí thư và các lãnh đạo cấp cao khác thì được lựa chọn trong số ủy viên Bộ Chính Trị.
Tuy nhiên, theo một nguồn tin thân cận với Đảng, thì các chính trị gia ở miền Nam vẫn cố gắng đề cử ông Dũng.
Ở trong và ngoài nước, ông Dũng có tiếng là một nhà lãnh đạo có năng lực và có đầu óc cải cách. Người gốc tỉnh Cà Mau, miền Nam, ngay từ thời thiếu niên, ông đã tham gia Quân Đội Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Ông có ảnh hưởng đối với lực lượng an ninh và có kiến thức rộng rãi về kinh tế ; trước đó, ông từng đảm nhiệm chức thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam.
Năm ngoái, dường như ông Dũng đang trên đường tiến đến đỉnh cao quyền lực. Trong một buổi lễ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 30 tháng 4, ông đã nói chuyện trong 40 phút – lâu hơn cả tổng bí thư và chủ tịch nước, là những nhân vật lãnh đạo số một và số hai. Việc một thủ tướng, lãnh đạo đứng hàng thứ ba, có một bài diễn văn dài đến như vậy trong một buổi lễ chính thức, là điều không bình thường.
Điều đó đã tạo ra tin đồn đoán là ông Dũng đang nhắm tới chức tổng bí thư. Thế nhưng, nhiều cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng đã e ngại ông Dũng.
Mặc dù chính sách Đổi Mới kinh tế được tiến hành từ năm 1986, nhưng Việt Nam vẫn tràn ngập các doanh nghiệp Nhà nước, trong lúc các quy định quản lý thì không rõ ràng. Thủ tướng Dũng không chỉ lãnh đạo Việt Nam tham gia Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, mà còn thúc đẩy các dự án tự do mậu dịch với Hàn Quốc, Liên Hiệp Châu Âu và Liên Minh Kinh Tế Âu-Á. Các chính trị gia có nhiều quyền lợi gắn liền với tình trạng này không mặn mà với những thay đổi đó.
Nhiều đảng viên cũng không muốn chấp nhận một nhà lãnh đạo cao cấp gốc miền Nam. Tất cả tám tổng bí thư, kể từ người sáng lập Đảng là ông Hồ Chí Minh, đều là người gốc miền Bắc hoặc gốc miền Trung.

Các tổng bí thư của đảng Cộng Sản Việt Nam
 
TênNơi sinhNhiệm kỳ
Hồ Chí MinhNghệ An (miền trung)10/1956 - 09/1960
Lê DuẩnQuảng Trị (miền trung)09/1960 – 07/1986
Trường ChinhNam Định (miền bắc)07/1986 – 12/1986
Nguyễn Văn LinhHưng Yên (miền bắc)12/1986 – 06/1991
Đỗ MườiHà Nội (miền bắc)06/1991 – 12/1997
Lê Khả PhiêuThanh Hóa (miền trung)12/1997 – 04/2001
Nông Đức MạnhBắc Kạn (miền bắc)04/2001 – 01/2011
Nguyễn Phú TrọngHà Nội (miền bắc)01/2011 – hiện nay

Có một quan niệm phổ biến cho rằng miền Bắc đã giải phóng miền Nam Việt Nam. Nhiều người Việt Nam nghĩ rằng đất nước thịnh vượng như hiện nay là nhờ vào các lực lượng miền Bắc. Có một suy nghĩ được chấp nhận rộng rãi, đó là con cái của những người phục vụ trong quân đội miền Bắc Việt Nam thì phải được ưu đãi về các cơ hội giáo dục và việc làm.
Theo quy tắc bất thành văn, những ai gốc miền Nam thì không thể làm lãnh đạo tối cao của Đảng. Và đây không phải là trở ngại duy nhất trên con đường tiến của ông Dũng.
Bóng dáng hàng xóm Trung Quốc
Ông Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc Hội và là lãnh đạo đứng hàng thứ tư của Việt Nam, đã đi thăm Trung Quốc vào ngày 23 tháng 12 và gặp gỡ chủ tịch nước Tập Cận Bình. Theo Thông Tấn Xã Việt Nam, hai bên đã thảo luận một loạt vấn đề, bao gồm cả các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Các chuyên gia nghi ngờ là họ cũng đã nói chuyện về việc tái bổ nhiệm ông Trọng làm tổng bí thư.
Không có bằng chứng cho thấy Bắc Kinh can thiệp vào cuộc tranh giành vị trí lãnh đạo ở Hà Nội. Nhưng Trung Quốc có ảnh hưởng đáng kể đối với nền chính trị Việt Nam. Và rõ ràng là ông Dũng không phải là ứng cử viên được Bắc Kinh ưa thích.
Thủ tướng Việt Nam đã có lập trường cứng rắn về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Khi Trung Quốc bắt đầu khoan dò tìm dầu ở khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam khẳng định là của mình, ông Dũng đã tuyên bố là Việt Nam không đánh đổi chủ quyền và các lợi ích hợp pháp để có được một « quan hệ hữu nghị viển vông và phụ thuộc ».
Yoshiharu Tsuboi, một chuyên gia về chính trị Việt Nam tại đại học Waseda, nói rằng Trung Quốc có thể rất nghi kỵ ông Dũng, người chủ trương quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ.
Hãy chờ đấy
Ông Dũng bị hạ bệ nhưng không hẳn là hết ảnh hưởng. 19 ủy viên Bộ Chính Trị, những người kiểm soát các công việc của Đảng trong nhiệm kỳ 5 năm tới, cũng đã được Đại hội Đảng bầu ra. Danh sách này bao gồm nhiều chính trị gia được cho là thân cận với thủ tướng Dũng, như ông Đinh La Thăng, bộ trưởng Giao Thông và ông Nguyễn Thiện Nhân, chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.
Chủ tịch một công ty Việt Nam, thân cận với một đảng viên cao cấp, nói : « Ông Dũng vẫn còn rất nhiều quyền lực chính trị… Ông ta không mất hết toàn bộ quyền lực đâu ».
Tuy nhiên, Đại Hội Đảng là một lời nhắc nhở về sự chia rẽ vùng miền. Với hậu quả là cản trở các chính trị gia gốc miền Nam, có đầu óc cải cách, và làm chậm lại sự phát triển kinh tế của đất nước.

Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Lãnh đạo Mỹ và ASEAN ra Tuyên bố chung sau hội nghị cấp cao đặc biệt

Lãnh đạo Mỹ và ASEAN ra Tuyên bố chung sau hội nghị cấp cao đặc biệt

Tuyên bố chung sau 2 ngày hội nghị đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau gồm kinh tế, biến đổi khí hậu, an ninh. Trong đó, tuyên bố nhấn mạnh đến việc cần thiết giải quyết tranh chấp trên biển thông qua biện pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế.
 >> Ông Obama hối thúc ngừng quân sự hóa Biển Đông
 >> Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tập trung bàn chuyện Biển Đông
 >> Obama: Mỹ và ASEAN thúc đẩy tầm nhìn chung về trật tự khu vực, tự do hàng hải


Các nhà lãnh đạo Mỹ và ASEAN chụp ảnh tại Sunnylands trong thời gian diễn ra hội nghị cấp cao. (Ảnh: AFP)
Các nhà lãnh đạo Mỹ và ASEAN chụp ảnh tại Sunnylands trong thời gian diễn ra hội nghị cấp cao. (Ảnh: AFP)
Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt Mỹ - ASEAN đã kết thúc sau 2 ngày họp ở Sunnylands, California với một Tuyên bố chung đề cập đến 17 nguyên tắc chính “điều hướng và đưa sự hợp tác của hai bên tiến về phía trước”.
Dưới đây là toàn văn Tuyên bố chung giữa lãnh đạo ASEAN và Mỹ được đăng tải trên trang web của Nhà Trắng:
1. Sự tôn trọng lẫn nhau đối với chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, sự bình đẳng và sự độc lập chính trị của tất cả các quốc gia với việc tuân thủ vững chắc các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;
2. Tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện, bền vững, và bồi dưỡng những thế hệ trẻ của chúng ta để duy trì hòa bình, phát triển và ổn định liên tục vì lợi ích chung;
3. Sự công nhận chung về tầm quan trọng của việc theo đuổi những chính sách dẫn tới những nền kinh tế năng động, cởi mở và có tính cạnh tranh giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải tiến, tinh thần sáng nghiệp và sự kết nối, và những chính sách hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa và thu hẹp khoảng cách phát triển;
4. Cam kết của chúng ta đối với việc bảo đảm cơ hội cho tất cả người dân của chúng ta, thông qua việc củng cố nền dân chủ, tăng cường nền quản trị tốt và tuân thủ luật pháp, tăng cường và bảo vệ nhân quyền và những quyền tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự dung hòa, và bảo vệ môi trường;
5. Tôn trọng và ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và những cơ chế do ASEAN dẫn đầu trong kiến trúc khu vực đang tiến triển của châu Á-Thái Bình Dương;
6. Tuân thủ vững chắc một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ giúp củng cố và bảo vệ các quyền và những đặc quyền của tất cả các quốc gia.
7. Cam kết chung đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, bao gồm tôn trọng đầy đủ đối với những quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần tới sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, dựa trên những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS);
8. Cam kết chung đối với việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải, bao gồm những quyền tự do hàng hải, tự do bay và những hình thức sử dụng vùng biển một cách hợp pháp khác, và thương mại hàng hải hợp pháp không bị cản trở như được mô tả trong Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự hóa hay kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;
9. Cam kết chung đối với việc tăng cường hợp tác để giải quyết những thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;
10. Quyết tâm mạnh mẽ dẫn đầu trong những vấn đề toàn cầu như chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan bạo lực, buôn người, buôn ma túy, và đánh bắt cá bất hợp pháp, không khai báo và không được quản lý, cũng như buôn bán bán bất hợp pháp gỗ và động vật hoang dã;
11. Cam kết chung đối với việc giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển một ASEAN thân thiện và bền vững về môi trường, cũng như thực thi những đóng góp của mỗi nước nêu trong Thỏa thuận khí hậu Paris;
12. Cam kết chung đối với việc thúc đẩy an ninh và ổn định không gian mạng phù hợp với những chuẩn mực về hành vi của nhà nước chịu trách nhiệm;
13. Hỗ trợ sự tiến triển của một Cộng đồng ASEAN mạnh mẽ, ổn định, gắn kết về chính trị, hội nhập về mặt kinh tế, có trách nhiệm xã hội, hướng tới người dân và lấy người dân làm trung tâm và dựa trên luật lệ;
14. Cam kết chung đối với việc tăng cường kết nối giữa người dân với người dân thông qua các chương trình có sự tham gia của ASEAN và công dân Mỹ, đặc biệt là thế hệ trẻ, và thúc đẩy các cơ hội cho tất cả người dân của chúng ta, đặc biệt là những người dễ bị tổn hại nhất, để hoàn thiện Cộng đồng ASEAN;
15. Cam kết chung đối với việc thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu cho sự phát triển bền vững thông qua việc thực thi Chương trình Phát triển Bền vững năm 2030 và Chương trình Hành động Addis Ababa, để bảo đảm một xã hội bền vững, công bằng và đa thành phần mà không ai bị bỏ lại phía sau;
16. Cam kết chung đối với việc tăng cường hợp tác tại những diễn đàn khu vực và quốc tế, đặc biệt là tại những cơ chế hiện hành do ASEAN dẫn đầu; và
17. Cam kết chung đối với việc tiếp tục đối thoại chính trị ở cấp Nguyên thủ/Chính phủ thông qua sự tham dự của các Nhà lãnh đạo của chúng ta tại Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á thường niên.

 

Dân trí


Minh Phương
Theo Whitehouse.gov

Bài học đau đớn từ 'đội quân thứ 5' của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh 1979

Bài học đau đớn từ 'đội quân thứ 5' của Trung Quốc trong cuộc chiến tranh 1979

Trong số thám báo, chỉ điểm có những người là hàng xóm, thậm chí là anh em họ hàng vừa hôm trước còn tay bắt mặt mừng, còn ngồi ăn chung một mâm cỗ thì hôm sau đã là những kẻ đối địch. 
Đến hẹn lại lên, mỗi năm cứ đến tháng 2 tây lịch, đất và người vùng biên giới phía Bắc lại dâng lên nhiều cảm xúc đan xen khó tả khi nhớ lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc của tổ quốc nổ ra vào rạng sáng ngày 17/2/1979.
Phóng viên báo Lao Động đã có mặt ở những vùng đất nóng bỏng, trực tiếp gặp gỡ những nhân chứng sống trong những thời khắc ác liệt nhất của cuộc chiến năm nào. Đau thương, uất nghẹn, pha lẫn tự hào, tự tin trước những biến cố của chiến tranh, của thời cuộc. Nhưng dù là đau thương đến mấy, 36 năm đã qua đi, vết thương theo năm tháng cũng dần lành lặn và hồi sinh hướng về một tương lai mới. Chỉ còn duy nhất những bài học, bài học phải trả bằng xương máu là vẫn còn nguyên giá trị.
*     *
*
Khi Nông Văn Ngàn trở lại Cao Bằng, hai cây cầu vào thị xã bị đánh sập. Phố xá bị san bằng hết. Cột điện, gốc cây bị đứt ngang vì mìn. Kể cả ghế đá vườn hoa. Nà Rụa là nơi dân ở Hà Quảng, Trà Lĩnh chạy ra và bị chết nhiều nhất. Cả tháng sau khi lính Trung Quốc rút, những đau thương tang tóc vấn còn đó.
Ký ức về Dương Lệ Mẫn
36 năm rồi mà ông Ngàn vẫn không quên năm ấy. Năm 1979, ông còn là một cậu học trò trường cấp 3 thị xã. Quá nhỏ để hiểu thế sự, nhưng đủ lớn để không thể quên những trái ngang thế thái nhân tình. Lớp khi đó có 3 bạn người Hoa là Hoàng Cắm Choóng, Vương Kinh và Dương Lệ Mẫn. Ông thân với Mẫn, một cô gái đặc biệt xinh đẹp như bất cứ cô gái gốc Hoa nào khác. Mẫn thuộc nhóm “cháu ngoan bác Hồ”. Có lần, trước chiến tranh, hai người còn ăn chung một nắm cơm khi đi thăm hang Pắc Bó.
Suốt cả kỳ 1 năm học, cả ba bỗng dưng ít nói. Còn Mẫn, mỗi lần ra chơi cô chỉ ở lại trong lớp và khóc một mình. “Chuẩn bị kỳ nghỉ tết năm ấy, vào buổi học cuối, Mẫn gặp tôi, vừa nói vừa khóc: “Ngày mai tôi nghỉ học. Tôi với bạn chia tay. Biết đâu trong những ngày tới tôi và bạn ở hai chiến tuyến…”. "Cô ấy nghẹn lời gạt nước mắt chạy đi. Tôi thương, lặng đứng nhìn theo” - lời ông Ngàn.
Sau tết, ngoài giờ học chính khóa buổi sáng, học sinh Cao Bằng khi ấy đào giao thông hào quanh trường. “Tình hình lúc đó rất khẩn trương”- ông Ngàn nhớ lại, đâu đâu người lớn cũng thầm thì về một cuộc chiến tranh sẽ xẩy ra nay mai. Có rất nhiều chuyện, nhiều đồn thổi. Chỉ huy trưởng Thị đội, trung tá Loòng tuyên bố nếu Trung quốc thò tay sang đánh ta thì ta sẽ chủ động và kiên quyết chống trả … Nhưng hồi ấy, không chỉ trẻ con mà ngay cả người lớn đều không tin là Trung quốc sẽ đánh mà nghĩ chắc lại gây hấn ném đá, gậy gộc rồi thôi. Đêm trước chiến tranh, 16/2/1979, rạp ngoài trời chiếu bộ phim "Giải Phóng". Vì là phim chiến đấu của Liên Xô, lại chiếu liền 3 tập nên dân thị xã đi xem rất đông. 11h khuya phim mới chiếu xong, khi mọi người tản mạn ra về thì phía biên giới hướng Trà Lĩnh, Quảng Hòa, Đông Khê có rất nhiều ánh chớp lóe lên xen lẫn những tiếng ì ầm. Mọi người chỉ thấy lạ là không có mưa mà mùa mưa chưa đến sao lại có sấm chớp làm vậy. Không ai biết được điều tệ hại nhất đã xảy ra.
Chiến tranh đến ngay ngày hôm sau, ngay sau một thông báo sơ tán, cả Cao Bằng chạy giặc. Đúng là không có gì khốn khổ, nháo nhác và sợ hãi hơn là chạy giặc. Ông Ngàn theo gia đình, theo đoàn người chạy vào Mỏ Muối. Từ Mỏ Muối tới Khuổi Diên. Từ Khuổi Diên tới Pác Sóa. Chạy trong sự hỗn loạn bố mẹ tìm con cái, chồng tìm vợ, con cháu chạy tìm ông bà... nháo nhác, rùng rùng hỗn loạn chạy tứ tán. “ Nhà thằng Sơn bạn tôi chạy mỗi người một ngả, đến khi tụ tập lại được thì không thấy bà cụ già đâu cả mãi về sau mới tìm thấy, bà bị dòng người chen lấn xô đẩy ngã xuống một cái hố sâu ở bờ sông. Không lên được. Không kêu cứu được. Bà cụ mất ngay tối hôm đó.

Xem thêm:













>> Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc: Ai nợ ai?

“Cứ đi vậy thôi” - ông Ngàn nói: “Tất cả đều không biết sẽ đi đâu, chỉ là ngược với hướng pháo”. Khuya ngày 18/2, khi cả đoàn đang ở bản Pác Sóa, cách Cao Bằng khoảng 6km thì tất cả bị dựng dậy khi có tin báo một toán thám báo được bọn chỉ điểm dẫn đường đang tới. Thời gian cứ chậm chạp trôi đi, mọi người không ai dám ngủ để chờ tiếng súng nổ ra, và rồi cái gì đến sẽ phải đến, lúc đó ước khoảng hơn 1h sáng, bắt đầu chỉ là một loạt AK vang lên, sau đó là hỗn loạn đủ các loại tiếng nổ của các loại súng, giao tranh chỉ diễn ra chừng 10 phút, sau đó im bặt. Căng thẳng. Đa số lần đầu tiên nghe tiếng súng nổ gần đến như vậy. Sau đó sự căng thẳng vỡ òa bằng một tiếng trẻ khóc thét mặc dù bị bố mẹ chúng bịt chặt mồm, các cụ già thì run lẩy bẩy, miệng cầu phật khấn trời không ra hơi.
Toán biệt kích đêm đó đã bị bộ đội tiêu diệt toàn bộ, chỉ riêng tên chỉ điểm suýt trốn thoát. “Tôi còn nhớ như in sự kinh ngạc của mình khi ấy”- lời ông Ngàn - “kinh ngạc đến há hốc mồm. Sững sờ đến mức suýt thì “Cháu chào bác ạ” khi tên chỉ điểm bị dẫn giải qua ngay trước mặt tôi chính là Voàng Cắm Hoáng - bố đẻ của thằng Voàng Cắm Choóng, bạn học của tôi”. Nhưng sự đau đớn và cảm giác bị phản bội chỉ đến ít ngày sau đó khi ông được nghe lại rằng tổ thám báo đã dẫn chiếc xe tăng của địch từ Đông Khê về đến tận dốc Nà Toòng chính là ông Dương Maishen - chủ hiệu trồng răng khu phố Vườn Cam và là bố của Dương Lệ Mẫn.
Câu chuyện nằm lòng của người Việt
Trong chiến tranh biên giới 1979, ngoài các quân đoàn chính quy, Trung Quốc còn sử dụng “lực lượng thứ năm” cắm chốt sẵn trong lãnh thổ Việt Nam. Từ đêm 16/2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.
Ông Mùa A Sấu - nguyên Chủ tịch MTTQ tỉnh Lai Châu - nhớ lại, “lực lượng thứ năm” khi ấy có cả cốt cán, thậm chí cả trưởng công an xã. “Nó trực chiến, địch đến làm tay sai. Một báo cáo chiến công của Lai Châu thời điểm đó ghi nhận chỉ riêng Đại đội l (Tiểu đoàn cảnh sát cơ động của Ty Công an) trong ít ngày của cuộc chiến đã truy bắt 40 đối tượng chính trị nguy hiểm.
36 năm sau cuộc chiến, ông Điêu Chính Tuệ - thời điểm 1979 là Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Lai Châu - vẫn chưa hề quên rằng trong số thám báo, chỉ điểm có những người là hàng xóm, thậm chí là anh em họ hàng vừa hôm trước còn tay bắt mặt mừng, còn ngồi ăn chung một mâm cỗ thì hôm sau đã là những kẻ đối địch. Rất, rất nhiều câu chuyện đau lòng về tình huynh đệ sau chiến tranh vẫn được nhắc tới. “Đối với những người Trung Quốc lúc đó, khi gặp nhau tay bắt mặt mừng, họ nói như cho mình uống nước đường, nhưng có gì là trở mặt ngay. Cái trở mặt có lúc thì tàn ác, có khi khiến khó khăn kéo dài”- ông Tuệ nói.
Trở lại với câu chuyện của ông Ngàn, sau chiến tranh biên giới, ông phục vụ trong quân đội, trở thành một cán bộ nghiên cứu khoa học, và giờ là một doanh nhân tứ hải giang hồ, nhưng tuyệt nhiên chưa hề gặp hay nghe tin tức gì về Hoàng Cắm Choóng hay Dương Lệ Mẫn. Nhân chứng về sự bội bạc 36 năm trước nay vẫn còn băn khoăn tại sao những người hôm trước còn là hàng xóm láng giềng, anh em bè bạn cùng nhau ăn nắm cơm thơm dẻo, sống đùm bọc yêu thương trong sự hòa hiếu của người Cao Bằng, thì chỉ hôm sau đã trở tay để thành thù địch. “Có lẽ Vương, hay Dương cũng chỉ là nạn nhân mà thôi!”.
Nếu có gặp lại họ thì có lẽ ông cũng không thể nói điều gì. Chả lẽ nhắc lại câu chuyện lông ngỗng mà hễ là người Việt Nam tưởng đã thuộc nằm lòng?.
Theo LAO ĐỘNG ONLINE
nguồn:http://www.reds.vn/index.php/chính-trị/chủ-quyền/8570-đội-quân-thứ-5-của-trung-quốc-trong-cuộc-chiến-tranh-1979-2

Thủ tướng đi Mỹ.

Thủ tướng đi Mỹ.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đặt chân đến Hoa Kỳ để dự hội nghị cấp cao đặc biệt giữa Asean và Hoa Kỳ được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2016.
Trước chuyến đi này của ông Dũng, nhiều nguồn tin đã loan báo ông Dũng sẽ không đi, thay thế vào đó là ông Phạm Bình Minh bộ trưởng ngoại giao.
Hãng thông tấn BBC loan một bản tin tương như vậy, vài giờ sau trang tin này đưa một bản tin tiêu đề khá ngộ nghĩnh.
Thủ tướng Dũng đổi ý giờ chót gặp Obama.
Mọi lý giải đều cho rằng ĐCSVN không muốn ông Dũng đi, nhưng vì đòi hỏi của Hoa Kỳ nên bắt buộc phải để ông Dũng đi trên tư cách đứng đầu phái đoàn Việt Nam.
Với chế độ như cộng sản Việt Nam, việc ông Dũng đi hay không đi đều có thể xảy ra. Dự một hội nghị quan trọng như vậy tại Hoa Kỳ, các uỷ viên BCT nào của Việt Nam cũng thèm muốn được ra mắt trong vai trò đứng đầu. Trong khi ông Dũng đã không còn giữ chức gì trong đảng CS sau đại hội 12 vừa qua. Nhưng thông lệ của hội nghị, các phái đoàn đến phải là nguyên thủ quốc gia như tổng thống, thủ tướng mới tương xứng với tầm quan trọng của hội nghị. Thế nên việc ông Dũng đi sang Mỹ dự hội nghị này là phù hợp với thông lệ.
Nhân dịp Tết Nguyên Đán vừa qua, các bộ phận ngoại giao Việt Nam tại Hoa Kỳ đi chúc Tết một số kiều bào, các cán bộ ngoại giao ở đây đã nhắc nhở một số kiều bào không nên tiếp xúc với thủ tướng khi ông Dũng đến Hoa Kỳ dự hội nghị này.
Như vậy, việc ông Dũng đi đến Hoa Kỳ lần này đã có trong một kế hoạch dự phòng định trước. Việc không công bố và tung những tin hoả mù của chế độ để nhằm mục đích là, nếu buộc phải để Dũng đi, thì tin như vậy sẽ ngăn cản những kiều bào vốn thường xuyên có quan hệ tốt với chế độ CS không tiếp xúc với thủ tướng, qua đó khiến cho uy tín của thủ tướng giảm đi trong mắt dư luận. Việc này càng rõ hơn khi đến chiều ngày 15 tháng 2 khi mà Nguyễn Tấn Dũng đã đến Hoa Kỳ một ngày. Nhiều tờ báo lớn trong nước không đưa tin hoặc đưa tin rất sơ sài ở mục nhỏ. Duy nhất có tờ Dân Trí đưa tin lấy lại từ Thông Tấn Xã Việt Nam, những tấm hình cho thấy chỉ hai người Việt ra đón thủ tướng trong đó một người là phiên dịch và một phụ nữ ôm bó hoa như đi chợ. Một cảnh đón tiếp nhạt nhẽo nhất từ trước đến nay của của kiều bào Hoa Kỳ với thủ tướng Dũng.



Điều khác lạ hơn là những người an ninh bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng trong chuyến đi này đều từ Việt Nam sang cùng. Thông thường khi Nguyễn Tấn Dũng đến Mỹ sẽ có đội an ninh lấy từ đại sứ quán, lãnh sự quán đến phối hợp để bảo vệ an ninh. Bởi mỗi khi ông Dũng đến Hoa Kỳ làm việc với chính phủ sở tại hay các tổ chức thương mại, quốc tế đóng tại đây, ông đều có những cuộc gặp gỡ bên ngoài với các cộng đồng người Việt. Việc tham gia của đội ngũ an ninh Việt Nam ở Hoà Kỳ sẽ giúp thủ tướng lựa chọn được những địa điểm, những con người người phù hợp để ông tiếp xúc, nói chuyện. Nhưng có thể lần này không cần thiết đến các an ninh Việt Nam tại Hoà Kỳ, bởi ông Dũng không được phép tiếp xúc tự do bên ngoài hội nghị như mọi lần trước nữa.
Ở hội nghị cấp cao này, Hoa Kỳ muốn tác động thắt chặt quan hệ với các nước Asean để ngăn cản sự bành trướng của Trung Quốc. Bởi vậy trước hội nghị này, ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã phải trực tiếp vận động những nước trong khối Asean có lập trường nghiêng về phía Trung Quốc như Lào, Cam Pố thay đổi thái độ bấy lâu. Qua những động thái như vậy của Hoa Kỳ , dễ nhận thấy Hoa Kỳ rất coi trọng tầm vóc của hội nghị này và sốt sắng muốn nhanh chóng đạt được những thoả thuận đồng nhất giữa các nước Asean với Hoa Kỳ về kinh tế và an ninh hàng hải, an ninh khu vực.
Đây cũng là cơ hội để Việt Nam tìm kiếm tiếng nói ủng hộ mình trong vấn đề biển Đông cũng như tìm kiếm sự hỗ trợ phát triển kinh tế. Lẽ ra với những mục tiêu hứa hẹn tốt đẹp như vậy, báo chí Việt Nam phải hăng hái đưa tin cổ vũ, ca ngợi.
Thế nhưng sự lạnh nhạt của truyền thông Việt Nam cho thấy, phải chăng chế độ Việt Nam không mặn mà gì với hội nghị này. Nguyên nhân đó chỉ là muốn giảm uy tín của cá nhân Nguyễn Tấn Dũng.? Nếu thế thật tai hại, không thể vì muốn giảm uy tín một cá nhân mà không thông tin cung cấp cho người dân biết về những cơ hội phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Hay còn có nguyên nhân khác, là Việt Nam e ngại Trung Quốc nên không muốn nhắc nhở nhiều đến chuyến đi này. Nếu thế là quá nguy hại, chứng tỏ Việt Nam chưa thể thoát được sự điều khiển của Trung Quốc. Như vậy thì kết quả mà đoàn Việt Nam đến Hoa Kỳ lần này sẽ chẳng có tiến triển gì trong cái gọi là tăng cường đấu tranh ngoại giao để bảo vệ chủ quyền như họ vẫn nói.
Dù ông Dũng không còn là gì đi nữa trong Đảng CSVN. Nhưng hôm nay ông đến Hoa Kỳ trong vai trò là một nguyên thủ Việt Nam, để làm về những việc quan trong gắn với sự phát triển và bảo vệ tổ quốc. Hình ảnh, thông tin mà Thông Tấn Xã Việt Nam cung cấp cho bạn đọc về cuộc đón tiếp ông Dũng tại Hoa Kỳ thật sơ sài, thiếu lửa nếu như không nói là tệ hại. Đến lúc này thì hình ảnh của ông Dũng có mặt tại hội nghị cấp cao Asean - Hoa Kỳ là hình ảnh đất nước. Không nên vì những hẹp hòi cá nhân mà chỉ đạo báo chí đưa tin, ảnh thiếu sinh khí như vậy về chuyến đi của ông Dũng.
Còn nếu như vì sợ Trung Quốc mà đưa tin như vậy, thật chẳng còn gì để nói về cái đảng cộng sản Việt Nam.
THANH HIEU BUI

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ ASEAN TẠI SUNNYLANDS

TUYÊN BỐ CHUNG CỦA HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH HOA KỲ ASEAN TẠI SUNNYLANDS


Sunnylands, California
ngày 15-16 tháng 2 năm 2016


Sau đây là toàn văn của Tuyên bố chung của Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ với Cộng đồng Đông Nam Á đã được ký kết trong tối hôm qua giờ Việt Nam. Tôi xin lược dịch để người dân Việt Nam nắm và tìm hiểu.

Sunnylands, California

Ngày 15-16 tháng 2 năm 2016

Chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Hoa Kỳ tập trung tại Sunnylands, California, vào 2 ngày 15-16, tháng Hai, năm 2016, cho một Hội nghị đặc biệt của của những nhà lãnh đạo. Đây là Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt giữa Hoa Kỳ-ASEAN đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ và cũng là Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên sau khi thành lập Khối Cộng đồng chung ASEAN.

Hội nghị đã đánh dấu một năm bước ngoặt cho cả hai bên ASEAN và cho một sự xích lại ngày càng gần nhau của Hoa Kỳ-ASEAN trong quan hệ đối tác chiến lược. Trong năm 2015, các nước thành viên ASEAN đã tổ chức lễ thành lập Cộng đồng ASEAN, làm việc cùng nhau hướng tới một ASEAN tốt hơn nhằm phục vụ người dân của khu vực Đông Nam Á.

Tại Hội nghị thượng đỉnh của chúng tôi ở Kuala Lumpur vào tháng 11 năm 2015, chúng tôi nâng mối quan hệ Hoa Kỳ-ASEAN lên tầm đối tác chiến lược, công nhận việc chuyển đổi mối quan hệ của chúng tôi trong nhiều năm qua. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt này, chúng tôi những người đứng đầu Nhà nước / Chính phủ các nước thành viên của ASEAN và Hoa Kỳ có cơ hội này, để tái khẳng định những nguyên tắc quan trọng mà sẽ hướng tới hợp tác của chúng tôi đi về phía trước:

1. Chúng tôi cùng nhau trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng và độc lập chính trị của tất cả các quốc gia bằng sự duy trì vững chắc các nguyên tắc và mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc, Hiến chương ASEAN và luật pháp quốc tế;

2. Vì tầm quan trọng của sự thịnh vượng chung, tăng trưởng kinh tế toàn diện bền vững và phát triển, và ươm mầm cho những thế hệ trẻ của chúng tôi để duy trì liên tục hòa bình, phát triển và ổn định vì lợi ích chung;

3. Công nhận lẫn nhau về tầm quan trọng của việc theo đuổi các chính sách dẫn đến nền kinh tế năng động, cởi mở và cạnh tranh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, đổi mới, tinh thần kinh doanh và kết nối, và hỗ trợ các Doanh nghiệp vừa và nhỏ(SEMs: Small and medium-sized enterprises) và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia;

4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả các dân tộc của chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, tăng cường quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích thúc đẩy sự khoan dung và sự điều tiết, và bảo vệ môi trường;

5. Tôn trọng và hỗ trợ cho các trung tâm của ASEAN và các cơ chế do ASEAN lãnh đạo trong cấu trúc khu vực phát triển của khu vực châu Á-Thái Bình Dương;

6. Cam kết cho một trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ nhằm duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước;

7. Cam kết chung về việc giải quyết các tranh chấp theo phương pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế và Công ước năm 1982 của Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS);

8. Cam kết chung về việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải, bao gồm cả quyền tự do hàng hải và quyền sử dụng hợp pháp khác của các vùng biển, và không bị cản trở thương mại hàng hải hợp pháp như được mô tả trong Công ước của Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển (UNCLOS) cũng như phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong việc tiến hành các hoạt động;

9. Cam kết chung tăng cường hợp tác để giải quyết các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải;

10 Quyết tâm mạnh mẽ về các vấn đề toàn cầu như khủng bố và chủ nghĩa bạo lực cực đoan, buôn bán người, buôn bán ma túy, và đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, cũng như buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã và gỗ;

11. Cam kết chung để giải quyết biến đổi khí hậu và phát triển bền vững về môi trường ASEAN với thời tiết, cũng như để các quốc gia thành viên thực hiện sự quyết tâm đóng góp theo Hiệp định về khí hậu của Paris 2015;

12. Cam kết chung thúc đẩy an ninh và ổn định đối với không gian mạng phù hợp với các chuẩn mực về hành vi do nhà nước chịu trách nhiệm;

13. Hỗ trợ cho sự tiến bộ một cách mạnh mẽ, ổn định, gắn kết với chính trị, hoàn thiện kinh tế thị trường, có trách nhiệm xã hội, cộng đồng thân thiện, con người là trung tâm và dựa trên luật Cộng đồng ASEAN;

14. Cam kết chung tăng cường kết nối giữa người với người thông qua các chương trình có sự tham gia của cộng đồng ASEAN và công dân Mỹ, đặc biệt là giới trẻ, và thúc đẩy những cơ hội đến với tất cả các dân tộc của chúng ta, đặc biệt những vấn đề dễ bị tổn thương nhất, nhằm thực hiện tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN;

15. Cam kết chung thúc đẩy mối quan hệ đối tác toàn cầu cho phát triển bền vững thông qua việc thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững và Chương trình hành động Addis Ababa đến năm 2030, nhằm đảm bảo một xã hội bền vững, công bằng và toàn diện mà không có bất kỳ quốc gia nào tụt hậu phía sau;

16. Cam kết chung tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, đặc biệt là các cơ chế do ASEAN lãnh đạo hiện có; và cuối cùng là

17. Cam kết chung tiếp tục đối thoại chính trị giữa những người đứng đầu ở cấp Chính phủ / Nhà nước thông qua các cuộc tham dự lãnh đạo của chúng ta tại các Hội nghị Thượng đỉnh các lãnh đạo của Hoa Kỳ-ASEAN hàng năm và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.